Chương 1: Khái quát về quan hệ hợp tác Việt Nam — Thổ Nhĩ Kỳ và các nhân tô ảnh hưởng đên quan hệ hợp tác Việt Nam — Tho Nhĩ Kỳ 1.1 Khái quát quan hệ Việt Nam — Thổ Nhĩ Kỳ 1.1 Quan hệ ngoại giao Từ những mong muốn tăng cường phát triển mối quan hệ ngoại giao song phương, tương ứng với nhu cầu phát triển và các mục tiêu trên cơ sở bình đăng, hai bên cùng hưởng lợi, hai nước Việt Nam — TNK bắt đầu mối quan hệ ngoại giao năm 1978, chỉ ngay sau 3 năm kế từ năm 1975, Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Ké từ khi thiết lập mối quan hệ ngoại giao từ năm 1978, cho tới trước khi TNK có cơ quan đại diện tại Hà Nội, nhân dân hai nước đã giúp không nhỏ vào quá trình thúc đây quan hệ đôi bên. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, ảnh hưởng cùng lúc bởi chính sách cắm vận từ Mỹ cùng với chiến tranh biên giới phía bắc với Trung Quốc và chiến tranh chống chế độ Khmer Đỏ bảo vệ biên giới phía tây nam đã khiến Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, TNK đã tổ chức viện trợ thực phẩm, thuốc men giúp đỡ cho người dân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.
Từ khi TNK có đại sứ quán tại Hà Nội năm 1997 và Việt Nam có đại sứ quán ở Ankara năm 2003, quan hệ ngoại giao giữa hai nước bước đến giai đoạn phát triển toàn diện và nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực: từ kinh tế, văn hóa đến chính trị và thương mại. Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và TNK đã được đánh dau bang các chuyến thăm giữa hai nước, tiêu biểu là 5 chuyến thăm các cấp của lãnh đạo hai nước, trong đó có 4 chuyến thăm cấp bộ trưởng của Bộ trưởng Ngoại giao TNK đến Việt Nam. Đặc biệt, gần đây nhất là chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng TNK Binali Yildirim vào hai ngày 23-24 tháng 8 năm 2017 và chuyến thăm TNK của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân từ ngày 7 đến ngày 12 tháng 10 năm 2018. Hai chuyến thăm cấp cao này được xem là đã mở ra một trang mới và đánh dau một bước tiến lớn trong quan hệ ngoại giao của hai nước.
Bởi từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1978, sau 39 năm lần đầu tiên mới có một chuyến thăm cấp thủ tướng của người đứng đầu chính phủ TNK tới Việt Nam. Hai chuyến thăm này còn mang ý nghĩa đặc biệt khi mà mối quan hệ ngoại giao này kỷ niệm năm thứ 40 (1978-2018).1 Các nội dung hợp tác đã ký kết giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ STT Nội dung Nam ky két 1 Hiệp định hợp tác thương mại, kinh tế và kỹ thuật 1997 2 Nghị định thư về hợp tác kinh tế và thương mại 1998 3 Thỏa thuận miễn thị thực cho hộ chiếu ngoai giao 1998 4 Hiệp định hợp tác văn hóa, khoa học và giáo dục 1999 5 Nghị định thư về hợp tác nông nghiệp 2000 6 Hiệp định khung về hợp tác khoa học kỹ thuật và môi trường 2000 7 Hiệp định hợp tác du lịch 2004 8 Thỏa thuận hợp tác hai Bộ Ngoại giao 2005 9 Hiệp định miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao, 2007 công vụ, hộ chiếu đặc biệt (đối với TNK) 10 Kế hoạch hành động về hợp tác giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam và 2010 Bộ Ngoại giao TNK giai đoạn 2010-2012 11. Hiệp định tránh đánh thuế lần hai 2014 12 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư 2014 13 Hiệp định về Vận tải biển và Hiệp định về Vận chuyên hàng 2015 không song phương Nguôn: Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông 1.2 Quan hệ thương mại TNK là một thị trường lớn và tiềm năng lớn phát triển ở khu vực Tây Á, có nhu cầu nhập khẩu nhiều hàng hóa là thế mạnh của nước ta và cũng là đối tác quan trọng, là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam tại khu vực Tây Á. Số liệu thống kê cho thấy trao đối thương mại hang hóa Việt Nam — TNK đã tăng nhanh qua các năm.
Tổng giá trị trao déi thương mại đã tăng từ 56 triệu USD năm 2003 lên đến mức 1492 triệu USD năm 2019. 10 Mặc dù con số có tăng lên đáng ké song trái với dòng dịch chuyên thương mại quốc tế tăng, thì xuất khâu của nước ta sang TNK trong 2018 và 2019 gần đây lại có xu hướng giảm. Về phía Việt Nam, hàng nhập khâu từ TNK vào Việt Nam tiếp tục tăng nhanh, nhất là các nguyên liệu sản xuất như sắt thép, máy móc thiết bị, hóa chất. Riêng mặt hàng sắt thép, tăng mạnh ngoài nguyên nhân nội tệ của TNK thấp còn do doanh nghiệp chuyền hướng nhập khâu khi Việt Nam áp dụng các biện pháp phòng vệ với một số nước, dẫn đến giá thép cao hơn so với TNK.
Về phía TNK với tình hình kinh tế tăng trưởng chậm, tỷ lệ thất nghiệp cao kéo đài trong vài năm qua cũng là nguyên nhân khiến nền kinh tế TNK tăng tưởng chậm, khiến nhu cầu nhập khẩu hàng Việt Nam bị suy giảm. Mặt khác, chính sách thương mại của TNK cũng hạn chế nhập khâu dé ngang bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong năm vừa qua. Ngoài ra, việc kim ngạch giảm sút còn đến từ các nguyên nhân khác như các vụ kiện chống bán phá giá, các biện pháp phòng vệ thương mại từ TNK, các nguyên nhân khách quan khác do cung cầu, giá cả thị trường quốc tế đối với các mặt hàng. Nguyên nhân chủ yếu là do sự bat ôn về nền kinh tế của TNK bi tác động bởi chính tri, ngoại giao,.
Sở di tình hình xuất khâu Việt Nam sang TNK biến động cùng chiều với xu hướng suy giảm nhập khâu của thị trường TNK là do giữa hai nước còn chưa có ưu đãi đặc biệt trong quan hệ thương mại mà chủ yếu dựa trên các chính sách thương mại trên cở sở tôi huệ quôc. Nhìn chung với tình hình sản xuất nội địa TNK chưa được khởi sắc cộng thêm ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh Covid-19 thì thương mại hai chiều của hai nước còn nhiều khó khăn và thử thách, đòi hỏi hai nước phải có những biện pháp cũng như hành động đối phó kịp thời nhằm quản lý khủng hoảng, giảm thiểu rủi ro.3 Quan hệ đầu tư Nhìn vào vị trí địa lý của TNK, ta có thé thay TNK chính là cửa ngõ dé thâm nhập vào thị trường Tây Á. Năm ở cả châu Á và châu Âu, TNK là thành viên của Nhóm 20 nước (G20) gồm 20 quốc gia phát triển nhất và có ảnh hưởng lớn đến quan hệ giữa các quốc gia ở Trung Đông và châu Á; đưa Việt Nam đến gần hơn với các khu vực như Trung Đông, Caucasus, vùng Balkan và Trung A. 11 Trong khi đó, với chính sách đối ngoại hội nhập quốc tế, Việt Nam đang trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới kinh tế rộng lớn với 59 đối tác, trong đó có 15 nước thành viên G20; cũng như là một đối tác xuất sắc và đáng tin cậy của TNK ở khu vực ASEAN là cau nối củng cô mối quan hệ của TNK với các nước ASEAN, khu vực khác trên thê giới.
Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, trong khu vực Trung Đông thì TNK là nước có vốn đầu tư trực tiếp nhiều nhất dù răng tổng giá trị đầu tư còn thấp vào Việt Nam. Điều này cũng cho thấy bức tranh chung về quan hệ đầu tư giữa khu vực Trung Đông và Việt Nam còn chưa xứng với tiềm năng của hai bên. Tính đến ngày 31/12/2019, tổng số vốn đầu tư của TNK sang nước ta đạt 708,6 triệu USD với 23 dự án được cấp phép. Đứng thứ 27 trên tổng số 135 quốc gia và vùng lãnh thé đầu tư tại nước ta.
Riêng trong năm 2019, TNK có thêm 4 dự án mới đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký là 4,8 triệu USD. Trong thời gian tới, hai nước sẽ mở rộng đầu tư hợp tác liên doanh, hợp tác đầu tư xây dựng ở nước thứ 3 (theo hình thức kỹ thuật của TNK, lao động của Việt Nam va vốn của nước thứ 3).2 Các nhân té ảnh hưởng đến quan hệ hop tác Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ 1.1 Các nhân tố thuộc Thổ Nhĩ Kỳ 1.1 Chính sách đầu tư của Thổ Nhĩ Kỳ TNK là một nước có môi trường đầu tư thu hút được sự chú ý của nhà đầu tư nước ngoài trên phạm vi toàn thế giới. Môi trường đầu tư tại TNK luôn được cải thiện với việc áp dụng mô hình hợp tác công - tư trong khuôn khổ Chương trình “Cải thiện môi trường đầu tư” được thực hiện từ năm 2001. Bên cạnh những cải thiện về mặt pháp luật, các doanh nghiệp cũng được hưởng lợi từ các chương trình ưu đãi đầu tư, các biện pháp ưu đãi đầu tư tại khu vực có thu nhập thấp, khu tự do, khu phát triển công nghệ và các biện pháp ưu đãi đầu tư dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, dành cho lĩnh vực nghiên cứu và phát triển.
12 Đơn vị: Tỷ USD 25 20 19/263 15 16/482 13944 13/563 13337 13829 13›› 10 11/999 8.059 3143 5 0 Nam Nam Nam Nam Nam Nam Nam Nam Nam Nam Nam 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 Hình 1.1: Lượng von FDI vào Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2009-2019 Nguôn: World Bank Trong những năm gần đây, vốn đầu tư nước ngoài - FDI vào TNK khá cao nhưng lại không có sự tăng trưởng ôn định. Theo số liệu của World Bank cho thấy, từ sau mức FDI kỷ lục vào năm 2007 đạt 22.047 tỷ USD thì bị giảm các năm 2008, 2009 với các mức FDI tương ứng là 19.85 tỷ USD và 8.59 tỷ USD do ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế thế giới. Năm 2010, 2011 lại lẫy lại được đà tăng trưởng với mức FDI tương ứng là 9.09 tỷ USD và 16. Tuy nhiên mức này lại giảm xuống còn 13.74 tỷ USD vào năm 2012 và duy trì ở mức 13.337 tỷ USD vào hai năm 2013, 2014.
Năm 2015 lại trăng trưởng với mức 19.26 tỷ USD, con số này lại bị giảm vào các năm tiếp theo và thấp kỷ lục vào năm 2019 khi chỉ có 8.43 tỷ USD vốn FDI được đầu tư vào TNK do giai đoạn hỗn loạn về tài chính và kinh tế từ nửa cuối năm 2018 và kéo dài sang nửa đầu năm 2019, nền kinh tế TNK bị những biến động tiền tệ, lạm phát cao và lãi suất cao kéo thụt lùi dẫn đến giảm nguồn vốn FDI.