Chương 1. Tổng quan về cú sốc tài chính đối với hệ thống ngân hàng thương mại. Thực trạng sức chịu đựng của hệ thống ngân hàng thương mại 123doc -9- Việt Nam trước các cú sốc tài chính. Gia tăng sức chịu đựng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trước các cú sốc tài chính.
123doc -10- CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÚ SỐC TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về các cú sốc tài chính đối với hệ thống ngân hàng thƣơng mại 1.1 Thế nào là cú sốc tài chính Cú sốc tài chính là một sự kiện có thể gây ra một bất ngờ, thay đổi mạnh mẽ và đáng kể trong một nền kinh tế, mặc dù xảy ra bên ngoài hoặc bên trong của doanh nghiệp hoặc hệ thống ngân hàng. đặc biệt là gây biến động giá cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng hoặc sự gián đoạn nghiêm trọng cho hệ thống phân phối. Một cú sốc tài chính có thể là tích cực hay tiêu cực, nó có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn và không thể đoán trước. Nó có thể bắt nguồn từ bên ngoài hoặc trong lĩnh vực kinh tế.
Các nguyên nhân có thể đến từ các thiết lập chính sách chính phủ, thay đổi chính trị, nguyên nhân tự nhiên, thay đổi công nghệ, hành vi thị trường không hợp lý hoặc chiến tranh và các cuộc tấn công khủng bố. Một cú sốc tài chính có thể đến trong nhiều hình thức. Ví dụ: Một cú sốc trong việc cung cấp các mặt hàng chủ yếu như dầu, có thể khiến giá tăng vọt, làm cho nó đắt tiền để sử dụng cho mục đích kinh doanh; Sự mất giá nhanh chóng của một loại tiền tệ sẽ tạo ra một cú sốc cho ngành công nghiệp nhập khẩu/ xuất khẩu bởi vì một quốc gia sẽ gặp khó khăn trong việc đưa sản phẩm nước ngoài.2 Các ảnh hưởng của các cú sốc tài chính gây ra Tác động của các cú sốc tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế bất kỳ phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố: (1) mức độ tài chính hội nhập của nền kinh tế của quốc gia đó và (2) sức mạnh của kinh tế vĩ mô, sẽ góp phần giảm thiểu hoặc gia tăng tác động của cú sốc trên nền kinh tế thực. Những cú sốc tài chính đã đóng một vai trò trung tâm trong những cuộc suy thoái gần đây nhất? Lao động và sản lượng giảm mạnh trong năm 2008, cũng như nợ nần phát triển.
Kết quả là trong năm 2009, hầu hết các nền kinh tế lớn tìm mình trong một cuộc suy thoái sâu. Hậu quả ảnh hưởng kinh tế toàn cầu, cho cả khối lượng và mô hình thương mại. Các cú sốc tài chính gây tác động tiêu cực lớn nhất về giá trị thị trường 123doc -11- chứng khoán. Trong năm 2009, do bùng nổ cú sốc của bong bóng nhà đất đầu dẫn đến các nhà đầu tư trong nước ồ ạt mua các tài sản nước ngoài dẫn đến giá chứng khoán, lãi suất trái phiếu và đầu tư giảm mạnh.
Nền kinh tế các quốc gia khác cũng bị ảnh hưởng bất lợi do việc đánh giá lại rủi ro, chi phí vốn cho họ cũng tăng lên, làm cho vốn cổ phần hiện tại đang sử dụng là quá lớn. Gây ra các cú sốc thương mại: tất cả các kết quả của căng thẳng tài chính toàn cầu thường được đi kèm với sự giảm mạnh trong giá cả của hàng hóa. Sự giảm mạnh trong các dòng chảy hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng mất lòng tin vào sản phẩm. Ngoài ra, đầu tư được thực hiện bởi một khu vực vốn có sử dụng hàng hóa trong nước và nhập khẩu từ sản xuất trong nước và nguồn nhập khẩu.
Do đó, sẽ khiến cho tiêu dùng, nhập khẩu và đầu tư giảm mạnh hơn so với GDP. Nhập khẩu của một quốc gia là xuất khẩu của một quốc gia khác vì vậy xuất khẩu cũng sẽ giảm hơn so với GDP gây tác động trên thị trường chứng khoán, đầu tư và xuất khẩu là lớn hơn nhiều GDP sẽ có thể kéo dài hơn các cuộc khủng khoảng, đôi khi sẽ là vĩnh viễn, mặc dù các cú sốc tài chính xảy ra chỉ là tạm thời.3 Phân loại, đặc điểm các cú sốc tài chính Dựa trên đặc điểm và tính chất các loại hình khủng hoảng tài chính đã nổ ra, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các biến/ chỉ tiêu tài chính thể hiện các dấu hiệu, là nguyên nhân, gây ra các cú sốc tài chính (khủng hoảng tiền tệ, ngân hàng và nợ) và thường xảy ra theo ba mô hình khủng hảng sau: Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất: - Ở một số nước châu Mỹ Latinh vào cuối những năm 1970, đầu những năm 1980 và trong những năm 1990, chủ yếu đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai trong điều kiện tỷ giá cố định bị các hoạt động đầu cơ tiền tệ tấn công. Khi những nền tảng kinh tế vĩ mô quá yếu kém, ngân sách thâm hụt trầm trọng, cung tiền tăng quá mức (có thể do chính phủ in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách) khiến lạm phát gia tăng; những điều này dẫn đến cán cân vãng lai bị thâm hụt trầm trọng. Trước nguy cơ đồng nội tệ bị giảm giá, Chính phủ buộc phải liên tục can thiệp bằng cách bán ngoại tệ ra thị trường để duy trì tỷ giá cố định.
Khi lượng dự trữ 123doc -12- ngoại hối giảm thấp, các cuộc tấn công mang tính đầu cơ bắt đầu xảy ra. Nguồn dự trữ ngoại hối trở nên cạn kiệt, Chính phủ buộc phải đi vay nợ nước ngoài và/ hoặc kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế (như IMF). Những điều này cùng với sự gia tăng căng thẳng chính trị- xã hội buộc chính phủ đến một thời điểm nào đó phải thả nổi tỷ giá làm cho đồng nội tệ bị mất giá liên tục và cú sốc tiền tệ xảy ra. Như vậy, trong mô hình khủng hoảng này, các chỉ tiêu kinh tế- tài chính cảnh báo, phản ánh khủng hoảng bao gồm lạm phát, cán cân vãng lai, thâm hụt ngân sách, dự trữ ngoại hối đều xấu đi trong bối cảnh tỷ giá cố định.
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai: - Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai được Obstfeld phát triển những năm 1994-1995 lý giải hiện tượng khủng hoảng tự phát sinh. Mô hình dạng này thậm chí có thể xảy ra ở những nước có mức độ yếu kém tài chính và vĩ mô vừa phải, song cam kết duy trì chế độ tỷ giá cố định của chính phủ bị suy yếu do các biện pháp bảo vệ tỷ giá quá tốn kém (chẳng hạn, do thắt chặt tiền tệ, lãi suất bị đẩy lên cao, gây tác động xấu tới tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm). Trước tín hiệu đó, các nhà đầu cơ có thể bán tháo đồng nội tệ để mua ngoại tệ và chính phủ không có cách nào khác là buộc phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định, dẫn đến khủng hoảng. Phiên bản khác của mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai tính đến tình trạng không hoàn hảo và mất đối xứng về thông tin tạo ra hành vi bầy đàn, có thể gây hoảng loạn và khủng hoảng tài chính.
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai có thể thấy trong cuộc khủng hoảng Hệ thống tiền tệ châu Âu (European Monetary System) năm 1992-1993. Như vậy, trong mô hình này, nhân tố rủi ro mang tính cố hữu hệ thống tài tính là một nguyên nhân quan trọng gây khủng hoảng. Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba: - Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất khó có thể giải thích một cách thỏa đáng cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997-1998. Lý do là các nước chịu khủng hoảng về cơ bản vốn có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt như ngân sách không thâm hụt đáng kể, thậm chí có thặng dư, tiết kiệm nội địa cao, tỷ lệ lạm phát thấp v.v… Áp lực phải từ bỏ chính sách tỷ giá cố định chưa lớn.
Hơn nữa, hành vi bầy 123doc -13- đàn cũng có liên quan đến khủng hoảng châu Á song không thể giải thích được mức độ trầm trọng của nó. Chính vì vậy, mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai cũng chưa thể xem là một phân tích thật tốt để giải thích cuộc khủng hoảng châu Á. - Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba được Yoshitomi và Ohno xây dựng năm 1999 đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế. Khủng hoảng tài khoản vốn thường dẫn đến khủng hoảng kép: khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng.
Việc tự do hóa tài khoản vốn thiếu một trình tự thích hợp đã dẫn đến hai hệ quả là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kép: (i) luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt quá nhiều mức thâm hụt cán cân vãng lai; và (ii) vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá lớn. Một yếu tố mấu chốt gây ra cuộc khủng hoảng kép là vấn đề rủi ro đạo đức: bảo lãnh ngầm và công khai của các Chính phủ. Nhờ đó, các nền kinh tế đã thu hút một lượng lớn vốn vay ngoại tệ ngắn hạn không được kiểm định chặt chẽ đổ vào nền kinh tế và gây nên tình trạng bùng nổ tín dụng, đầu tư quá mức và thiếu hiệu quả, nhất là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản và tạo nên nền kinh tế “bong bóng”. Bong bóng phình ngày một lớn và phải đến lúc vỡ.
Một quá trình ngược lại bắt đầu xảy ra. Mọi người bán tài sản vì suy đoán rằng giá tài sản sẽ giảm; lượng cung tài sản vì thế gia tăng và làm cho giá tài sản giảm xuống. Các ngân hàng nhận thấy giá trị tài sản thế chấp giảm xuống nên không cho vay nữa và đòi hoàn trả những khoản cho vay cũ về. Các nhà đầu tư, do phải hoàn trả vay nợ, nên càng phải bán tháo tài sản khiến giá lao dốc và thường giảm xuống dưới cả mức cân bằng ban đầu.1 Khủng hoảng tài khoản vốn Nguồn: Theo Yoshitomi and Shirai (2000)[12] Cuộc khủng hoảng ngân hàng - tiền tệ ở châu Á năm 1997 -1998 được coi là một ví dụ điển hình của mô hình khủng hoảng vốn.2 Các nhân tố ảnh hƣởng gây ra các cú sốc tài chính Các nhân tố sau đây được xem là các nguyên nhân- toàn cầu và trong nước, để giải thích việc ảnh hưởng và gây ra các cú sốc tài chính: - Bong bóng tín dụng.
Bắt đầu từ cuối những năm 1990, Trung Quốc, nước đang phát triển lớn, và các quốc gia sản xuất dầu mỏ lớn xây dựng thặng dư vốn lớn. Họ cho vay các khoản tiết kiệm cho Hoa Kỳ và châu Âu, khiến lãi suất giảm.