Chương 1: Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI tác động tới quan hệ của Trung Quốc với các nước Trung Á Khái quát tình hình chung của thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI và những tác động tới quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á. Làm rõ vị trí địa chiến lược của khu vực Trung Á đối với Trung Quốc. Chương 2: Quan hệ Trung Quốc với các nước Trung Á trên các lĩnh vực Chương này nêu cụ thể quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á trên các phương diện: kinh tế, chính trị, quân sự và giao lưu văn hoá, từ đó làm nổi bật chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc với các quốc gia khu vực này. Đặc biệt đi sâu vào trình bày hợp tác giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á thông qua tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO).
Chương 3: Hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc với các nước Trung Á Trung Quốc trong quá trình “trỗi dậy” mạnh mẽ của mình có nhu cầu năng lượng rất lớn, mà các quốc gia Trung Á ngoài vị trí địa chiến lược nằm ở cửa ngõ phía Tây Trung Quốc, còn là khu vực giàu tài nguyên, cung cấp năng lượng mà Trung Quốc rất cần đến. Nội dung chương này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á, những thuận lợi, khó khăn mà hai bên phải đối mặt trong quá trình hợp tác. Chương 4: Đánh giá và triển vọng quan hệ Trung Quốc và các nước Trung Á Chương này đưa ra những đánh giá về quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á, những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai bên. Những ảnh hưởng của quan hệ này tới khu vực và thế giới, đồng thời dự báo về triển vọng quan hệ Trung Quốc và các nước Trung Á trong những năm tiếp theo.
13 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƢỚC TRUNG Á 1. Khái quát quan hệ giữa Trung Quốc với các nƣớc Trung Á những năm đầu thế kỷ XXI Năm nước Trung Á bao gồm: Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Uzberkistan và Turmenistan. Về mặt địa lý, Trung Quốc là láng giềng gần gũi của các quốc gia này, trong đó, Trung Quốc có đường biên giới chung lên đến hơn 3300 km với Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan. Dọc hai bên đường biên giới chung này có các dân tộc thiểu số của Trung Quốc và các nước Trung Á sinh sống đan xen.
Trung Á là khu vực nằm giữa hai châu lục Á, Âu, chính là con đường giao thông thương mại huyết mạch Đông, Tây thời cổ đại – Con đường Tơ lụa. Vị trí địa lý quyết định các nước Trung Á đều nằm sâu trong lục địa, không có cảng biển. Sau khi Liên Xô giải thể, các nước Trung Á trở thành các quốc gia độc lập, chấn hưng và phát triển kinh tế đất nước, nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Khu vực Trung Á là khu vực được ưu đãi nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, được coi là “rốn dầu” của thế giới.
Tuy nhiên, sau khi độc lập, các nước này phải đối mặt với rất nhiều nhân tố bất ổn định, đó là chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan và chủ nghĩa khủng bố. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, tình hình quốc tế có những thay đổi to lớn, nhìn một cách tổng thể, xu thế đó có lợi cho sự phát triển quan hệ của Trung Quốc với các nước Trung Á. Trước hết, với sự tan rã của hai Cực đối đầu, hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành tiếng nói chung của cộng đồng quốc tế. Việc giải quyết xung đột và mâu thuẫn bằng biện pháp đàm phán chứ không phải dùng sức mạnh vũ lực trở thành nguyên tắc phổ biến trong cộng đồng quốc tế.
Đồng thời, các nước đều đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, điều này rất có lợi trong việc giải quyết các công tác ngoại 14 z giao của những nước mới độc lập như các quốc gia Trung Á. Hai là, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Mỹ, Nhật, EU đã có bước cải thiện rõ nét, đặc biệt là quan hệ đối tác chiến lược với Nga không ngừng được làm sâu sắc hóa, khiến cho quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á thêm phần thuận lợi, tạo môi trường thông thoáng để hai bên xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị lên một tầm cao mới. Ba là, để hội nhập vào trào lưu toàn cầu hóa kinh tế, các quốc gia đều cần nỗ lực xây dựng quan hệ quốc tế lành mạnh, tranh thủ mọi cơ hội để phát triển kinh tế trong nước. Trung Quốc và các quốc gia Trung Á có điểm chung là đều là những nước đang trên con đường mở cửa cải cách, nỗ lực phát triển kinh tế đất nước, cải thiện đời sống nhân dân.
Trong xu thế phát triển tổng thể, Trung Quốc và các nước Trung Á tìm được tiếng nói chung. Bốn là, trong bối cảnh tình hình thế giới phát triển theo hướng đa cực, rất nhiều quốc gia mong muốn xây dựng một trật tự kinh tế chính trị quốc tế mới một cách công bằng, hợp lý. Đây chính là cơ hội thúc đẩy quan hệ Trung Quốc và các nước Trung Á phát triển cùng có lợi. Vì vậy, sự thay đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế có lợi cho phát triển quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á.
Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động tới quan hệ của Trung Quốc với các nƣớc Trung Á 1. Tình hình thế giới Trong những năm đầu thế kỷ XXI, xu hướng nổi trội của môi trường an ninh - chính trị quốc tế là duy trì ổn định, thúc đẩy hợp tác, kiềm chế xung đột. Các nước lớn có nhiều nỗ lực tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế; các khu vực và các nước nhỏ đẩy mạnh hợp tác và hội nhập. Do vậy, chiến tranh, xung đột quân sự được kiềm chế, ngăn chặn; tiến trình giải quyết các điểm nóng trên thế giới bằng giải pháp hòa bình đạt được một số tiến bộ; hợp tác bảo vệ an ninh phi truyền thống tiếp tục được mở rộng.
Tuy vậy, tình hình thế giới vẫn tiềm ẩn các nguy cơ mất ổn định, chủ yếu do các nước lớn, các trung tâm quyền lực đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược, can thiệp ① Bích Quân Độ, “Trung Quốc và Trung Á”, NXB Văn Hiến Khoa học xã hội, năm 1999, trang 51. 15 z vào công việc nội bộ của các nước khác. Trong khi Mỹ phát động cuộc chiến ở Nam Á và Trung Đông dưới chiêu bài “chống khủng bố” để thu hẹp không gian chiến lược của các đối thủ tiềm tàng, các nước lớn khác như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ tăng cường hợp tác chiến lược, đẩy mạnh tập hợp lực lượng nhằm thúc đẩy sự hình thành trật tự thế giới đa cực, phá vỡ mô hình thế giới đơn cực do Mỹ thiết lập sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Các cuộc “cách mạng màu sắc” liên tiếp nổ ra tại các nước cộng hòa thuộc không gian hậu Xô-viết là một điển hình cho sự can thiệp của phương Tây vào không gian hậu Xô-viết nhằm cô lập, làm suy yếu Nga.
Bên cạnh xu hướng toàn cầu hóa tiếp tục tác động sâu sắc, toàn diện đến tình hình của các nước và khu vực, sự chi phối của các cường quốc đối với quan hệ quốc tế vẫn rất rõ nét: a. Mỹ Chính quyền Mỹ triển khai các biện pháp đơn phương nhằm củng cố vị thế “bá chủ toàn cầu”. Sau khi lên nắm quyền (2000), Tổng thống Mỹ G. Bush đã đẩy mạnh các biện pháp quân sự, đối ngoại nhằm khẳng định địa vị siêu cường của Mỹ.
Ngay sau khi xảy ra vụ khủng bố tấn công nước Mỹ ngày 11/09/2001, Chính quyền Bush lập tức sử dụng chiêu bài “chống chủ nghĩa khủng bố” phát động cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu, toan tính với sức mạnh quân sự vượt trội sẽ giành được thắng lợi trong cuộc chiến này, qua đó gia tăng ảnh hưởng và lợi ích chiến lược, tăng cường kiềm chế các đối thủ của Mỹ tại các khu vực trọng điểm trên thế giới; đồng thời Mỹ triệt để lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền”, ra sức thúc đẩy “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” nhằm lật đổ chế độ ở các nước mà Mỹ kết tội là “thù địch” để phục vụ lợi ích của Mỹ. Sau khi tiến hành hai cuộc chiến ở Afghanistan (2001) và Iraq (2003), kích động một loạt cuộc “cách mạng màu sắc” ở không gian hậu Xô-viết như Gruzia, Ukraina, Kyrgyzstan, Uzbekistan, kích động phong trào “dân chủ hóa” ở khu vực Trung Đông với mục tiêu hàng đầu là lật đổ các chế độ chống Mỹ ở Iran và Syria, Tổng thống Bush tuyên bố “Nước Mỹ vẫn ở trong tình trạng chiến tranh”, nhấn mạnh “cuộc chiến này còn hơn cả xung đột vũ trang, vì nó là cuộc chiến mang tính quyết định về hệ tư tưởng và an ninh của nước 16 z Mỹ”①. Mỹ tăng mạnh ngân sách quốc phòng (năm 2007 là 448 tỷ USD; năm 2008 là 648 tỷ USD), thử nghiệm vũ khí mới, thúc đẩy chạy đua vũ trang, tìm cách mở rộng hiện diện quân sự trên toàn thế giới… Mỹ thúc đẩy các biện pháp nhằm tăng cường khả năng kiềm chế các nước đối thủ tiềm tàng, trước hết là Trung Quốc (Trung Quốc) và Nga. Mỹ xác định liên minh Mỹ - Nhật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chính sách kiềm chế, uy hiếp Trung Quốc.
Mỹ đã ký với Nhật Bản “Hiệp định Bảo mật tình báo quân sự”, đẩy nhanh tiến độ bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa PC-3 tại Nhật, thông qua “Mục tiêu chiến lược chung năm 2007”, thúc đẩy “Quan hệ đối tác toàn cầu” giữa NATO với Nhật, nỗ lực đưa Úc vào liên minh tay ba Nhật - Mỹ - Úc; gia tăng hợp tác quân sự với Ấn Độ, bán vũ khí hiện đại cho Đài Loan; lôi kéo các nước Đông Nam Á vào hợp tác an ninh, quân sự; duy trì “mặt trận chống khủng bố thứ hai” để tạo vành đai bao vây, kiềm chế Trung Quốc. Mỹ đưa nhiều yêu cầu với Trung Quốc trong vấn đề thương mại; đưa Trung Quốc vào danh sách “Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo”; chỉ trích Trung Quốc tăng cường tiềm lực quốc phòng… Ngày 17/10/2007, Tổng thống G.