Chương 1: Chính sách đối ngoại chung của Liên minh châu Âu 1. Cơ sở lí luận về Chính sách đối ngoại: Thứ nhất, Chính sách đối ngoại: Chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia ra đời và phát triển trên cơ sở lí luận của các học thuyết chính trị, lý thuyết về chính sách đối ngoại cơ bản cũng như các giá trị phổ quát của mỗi quốc gia, dân tộc đó. Việc hình thành, phát triển và thực thi chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều yếu tố: nền chính trị quốc gia, tầng lớp cầm quyền, các chính trị gia nổi tiếng hay các nhóm học giả có tiếng nói trong xã hội, bối cảnh chính trị khu vực và thế giới, tư tưởng xã hội, nền tảng văn hóa, lịch sử của dân tộc, …Trong việc ra đời chính sách đối ngoại, vai trò của nhà lãnh đạo quốc gia, chủ thể quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngày nay, hoạt động quan hệ hợp tác quốc tế phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực và rông khắp các chủ thể.
Chính sách đối ngoại của một quốc gia cũng có thể hiểu như sự kéo dài của chính sách đối nội với các chủ thể ngoài biên giới quốc gia. Hệ thống các lý thuyết chủ yếu: Về bản chất, các lý thuyết cung cấp một bản đồ hay khung tham chiếu giúp cho thế giới phức tạp xung quanh chúng ta trở nên dễ hiểu hơn. Việc chọn lựa lý thuyết nào là một quyết định quan trọng bởi vì mỗi lý thuyết dựa trên các giả định khác nhau về bản chất của chính trị quốc tế, mỗi lý thuyết đưa ra các tuyên bố nhân quả khác nhau và mỗi lý thuyết đưa ra một tập hợp các khuyến nghị khác nhau về chính sách đối ngoại. Chúng ta cần các lý thuyết để hiểu được cơn bão táp thông tin, thực tiễn cuộc sống, sự vụ diễn ra hàng ngày.
Khó có thể đưa ra một chính sách tốt nếu các nguyên tắc tổ chức cơ bản của người đó sai lầm, giống như khó có thể xây dựng được các lý thuyết tốt nếu như không hiểu biết nhiều về thế giới thực. Cách tiếp cận đơn lẻ không thể nắm bắt được tất cả những điều phức tạp của nền chính trị thế giới đương đại. Các lý thuyết khác nhau giúp vạch ra 11 những điểm mạnh và những điểm yếu của chúng và thúc đẩy sự sàng lọc tiếp. Chúng ta nên hoan nghênh và khuyến khích sự đa dạng của các lý thuyết vê quan hệ quốc tế đương đại [32].
Trong việc hoạch định, thực thi và nghiên cứu về chính sách đối ngoại có các lý thuyết chủ yếu được bàn luận đến như: Chủ nghĩa Hiện thực: nhìn nhận thế giới vô chính phủ, hỗn loạn. Các quốc gia, dân tộc luôn tìm kiếm và vì quyền lực quốc gia dân tộc mình là trên hết. Từ cổ chí kim, nhiều hoạt động có mục đích của các quốc gia, dân tộc luôn đề cao tính lợi ích quốc gia lên trên hết. Nhà lãnh đạo của các quốc gia cũng luôn vì quyền lực và lợi ích của đát nước mình làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát ngôn hay quan hệ hợp tác quốc tế.
Người dân hay doanh nghiệp có thể vì các lợi ích của bản thân hoạt động trao đổi quốc tế nhưng trên hết vẫn không thể vượt qua lợi ích của quốc gia, dân tộc mình.[10], [11] Chủ nghĩa Tự do: đề cao việc hợp tác quốc tế, thúc đẩy toàn cầu hóa về thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế nhằm tạo ra nền hòa bình, ổn định cho thế giới. Thế giới hiện đại được phát triển phồn thịnh, hòa bình được gìn giữ thành xu hướng chủ đạo cũng nhờ vai trò của hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực từ kinh tế, thương mại, đầu tư và các hoạt động trao đổi tự do khác xuyên biên giới. Những lý luận của chủ nghĩa tự do giúp cho các chủ thể tham gia hoạt động giao thương quốc tế càng có niềm tin và kết quả tốt đẹp hơn. Hợp tác phát triển, hoạt động xuyên biên giới, thế giới phẳng, toàn cầu hóa đang là xu hướng chủ đạo của thế giới đại đồng.[10], [11] Chủ nghĩa Chức năng: khuyến nghị hợp tác từ các lĩnh vực lan tỏa sang các lĩnh vực khác sâu rộng hơn.
Hội nhập và liên kết quốc tế là một tiến trình nhiều khó khăn, thách thức do sự khác biệt của các chủ thể tham gia. Việc hợp tác, cùng liên kết trong những lĩnh vực đơn nhất, phổ quát, dễ hòa nhập dẫn đến các liên kết sâu, rộng hơn của các lĩnh vực khác là một quá trình 12 được thực hiện tốt, thuận lợi hơn. Từ các liên kết về ngành nghề, việc làm đến trao đổi thương mại, đầu tư đến tài chính, kinh tế rồi tiền tệ, ngân hàng, …liên minh châu Âu cho ví dụ sâu sắc về hội nhập liên kết sâu, rộng các lĩnh vực khác của cộng đồng.[10], [11] Chủ nghĩa Kiến tạo: nhấn mạnh đến bản sắc quốc gia và bản sắc xã hội của mỗi quốc gia nhằm giải thích về điểm mấu chốt trong đường lối chính trị, chính sách quốc phòng an ninh, chính sách đối ngoại của các quốc gia này. Các quốc gia,dân tộc có giá trị văn hóa, tư tưởng chính trị, đặc tính xã hội khác nhau.
Trong mỗi quốc gia, dân tộc lại bao gồm nhiều chủ thể có tư tưởng, giá trị khác nhau. Việc hoạch định, thực thi chính sách điều hành, phát triển xã hội nói chung và chính sách đối ngoại nói riêng phụ thuộc vào nhiều biến số của bối cảnh quốc gia đó bên cạnh ảnh hưởng của nền chính trị khu vực, thế giới. Lý thuyết này giúp cho các nhà hoạch định, thực thi chính sách có sự linh hoạt về làm và thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, dân tộc mình. [10], [11] Khái niệm quyền lực: Quyền lực cứng là kiểm soát về quân sự, ngoại giao, trừng phạt về kinh tế để gia tăng lợi ích quốc gia.
Quyền lực mềm là nguồn lực chính trong nghệ thuật quản lý đất nước, là khả năng thuyết phục người khác làm theo những gì mình muốn (cùng với sức mạnh thiết lập luật chơi – yếu tố thường bị bỏ qua một cách kỳ lạ trong những cuộc đối thoại hiện nay về quyền lực cứng và mềm). Các công cụ quyền lực bao gồm: lực lượng vũ trang, các cơ quan thực thi pháp luật và tình báo, các cơ quan chính phủ khác nhau giành riêng cho ngoại giao song phương và công cộng, viện trợ nước ngoài, kiểm soát tài chính quốc tế. Khái niệm an ninh và an ninh quốc gia: An ninh, hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất, là khả năng giữ vững sự an toàn trước các mối đe dọa. An ninh có ý nghĩa là sự tồn tại, an toàn, bình an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự 13 cố hay tổn thất về người và của.
Ngược lại với an ninh là mất an ninh là rủi ro, là nguy hiểm, là tổn thất… Tuy nhiên, an ninh không phải là một khái niệm tĩnh mà là một khái niệm động và trải qua nhiều thay đổi về cách hiểu, cũng như cách tiếp cận. An ninh quốc gia là vấn đề hệ trọng, quyết định đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc nên mọi quốc gia đều phải tập trung củng cố và xây dựng, tăng cường tiềm lực an ninh và bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia. Đây là việc làm tất yếu và thường xuyên, là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân ở quốc gia đó. Trong lịch sử nhân loại, an ninh quốc gia bao giờ cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu, là nhiệm quan trọng nhất.
Các quốc gia luôn tìm mọi cách tăng cường quốc phòng, tiềm lực quân sự của mình, chạy đua vũ trang để tăng cường khả năng tự bảo vệ cho mình. An ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức phi truyền thống. An ninh quân sự: An ninh quân sự ngụ ý khả năng của một quốc gia để bảo vệ chính mình, và ngăn chặn sự xâm lược quân sự từ bên ngoài. Ngoài ra an ninh quân sự bao hàm khả năng của một quốc gia để thực thi các lựa chọn chính sách của mình bằng cách sử dụng vũ lực quân sự.
An ninh chính trị: là một thành phần quan trọng của an ninh quốc gia, an ninh chính trị là sự ổn định của trật tự xã hội. An ninh chính trị cùng với an ninh quân sự và an ninh xã hội tạo nên một khuôn khổ cho an ninh quốc gia. An ninh chính trị liên quan đến bảo vệ chủ quyền đất nước và hệ thống chính trị, sự an toàn xã hội từ các mối đe dọa nội bộ bất hợp pháp và các mối đe dọa hay áp lực từ bên ngoài. An ninh kinh tế: Trong hệ thống phức tạp hiện nay của thương mại quốc tế, đặc trưng bởi các thỏa thuận đa quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, an ninh kinh tế là sự tự do thực hiện việc lựa chọn chính sách phát triển của một quốc gia theo cách mong muốn; tự do kiểm soát các quyết định kinh tế và tài chính của họ.
An ninh kinh tế đòi hỏi 14 khả năng bảo vệ sự phồn thịnh, giàu có của một quốc gia và tự do kinh tế từ các mối đe dọa bên ngoài. Vì vậy, nó bao gồm chính sách kinh tế, thương mại, tài chính và một số cơ quan thực thi pháp luật. An ninh năng lượng: thường được định nghĩa ở mức độ mà một quốc gia hoặc những cá nhân liên quan có quyền hạn đối với các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí đốt, nước và khoáng chất. Sự ra đời chính sách đối ngoại chung của EU Ý tưởng cho việc ra đời một chính sách về đối ngoại, an ninh và quốc phòng chung được định hình từ thành công của ba cộng đồng giữa các nước châu Âu: Cộng đồng Than và Thép Châu Âu (ECSC) năm 1951, Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) và Cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu (Euratom) năm 1957.
Ba cộng đồng này đã luôn được thúc đẩy thông qua một loạt các đề xuất, có cùng một mục tiêu phát triển. Sự thất bại trong năm 1954 của các kế hoạch thành lập Cộng đồng Quốc phòng Châu Âu, tức một đội quân châu Âu tích hợp dưới sự chỉ huy chung, được gọi là kế hoạch “Pleven”, cũng như một cộng đồng chính trị châu Âu (cấu trúc liên bang hoặc liên minh), theo sau đó là sự không thành công của kế hoạch “Fouchet” đầu những năm 1960, đó là dự kiến một liên minh của các quốc gia với chính sách đối ngoại và quốc phòng chung.