Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM – CAMPUCHIA GIAI ĐOẠN 1991 - 2012 1. Tình hình thế giới và khu vực 1. Tình hình thế giới Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình an ninh chính trị trên thế giới có nhiều chuyển biến nhanh và phức tạp. Trong bối cảnh đó, các nước lớn đều có chính sách để từng bước xác lập vị thế của mình.
Mỹ cố gắng duy trì sức mạnh và vai trò lãnh đạo thế giới, các nước lớn khác muốn vươn lên nắm giữ vai trò lớn hơn trên bàn cờ chính trị thế giới. Chính vì vậy, một trật tự thế giới mới từng bước được hình thành – trật tự “nhất siêu đa cường”. Trong trật tự mới, xu hướng quan hệ quốc tế chủ đạo là đối thoại, hòa hoãn, bình thường hóa, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XXI, Mỹ đã đẩy mạnh chiến lược toàn cầu của mình.
Tại Đông Nam Á, Mỹ đã có những bước điều chỉnh chiến lược sau sự kiện 11/9/2001 nhằm tăng cường hợp tác chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế, đồng thời tăng cường sự hiện diện trở lại của mình ở khu vực. Trước sự “trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc, đặc biệt là việc nước này gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ đã thực hiện chiến lược “xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương” trong đó Đông Nam Á là trung tâm. Vì vậy, một mặt Mỹ đẩy mạnh hợp tác chính trị ngoại giao với các nước trong khu vực, mặt khác Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh hợp tác thương mại, đầu tư với các nước trong khu vực. Những bằng chứng cụ thể là Mỹ đã tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)1 vào năm 2008 và đưa ra Sáng kiến Hạ nguồn Mekong vào năm 2009.
1 TPP là tên viết tắt của Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement ) là một hiệp đinh/thỏa thuận thương mại tự do với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thỏa thuận ban đầu được các nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ký vào ngày 03 tháng 06, 2005 và có hiệu lực ngày 28 tháng 05, 2006. Hiện tại, thêm 8 nước đang đàm phán để gia nhập, đó là các nước Mỹ, Australia, Malaysia, Peru, Vietnam, Mehico, Canada và Nhật Bản. 16 luan an Với Trung Quốc, sau hơn 20 năm kể từ khi tiến hành cải cách mở cửa (1978), đến năm 2000, Trung Quốc đã hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lần thứ 9 với GDP đạt 1072 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 800 USD.
Những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể. Về mặt kinh tế, tăng trưởng kinh tế luôn đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định (năm 2009 đạt 9,2%; năm 2010 đạt 10,4%; năm 2011 đạt 9,2%, tăng trưởng cả năm 2012 đạt 7,5%)2. Năm 2002, kinh tế Trung Quốc chỉ đứng thứ 39 trên thế giới thì đến năm 2010, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ 02 thế giới, chỉ sau Mỹ. GDP của nước này đã đạt 47.000 tỷ NDT (tương đương 7.
Cho đến nay, Trung Quốc có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, tính đến cuối tháng 3/2012 đã lên đến con số 3. Trung Quốc nhanh chóng gia tăng ảnh hưởng của mình trên toàn thế giới, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc đã đưa ra chiến lược ngoại giao với bốn trụ cột: Ngoại giao nước lớn; ngoại giao láng giềng; ngoại giao với các nước đang phát triển và ngoại giao đa phương. Những năm gần đây, Nga có sự phục hồi kinh tế ấn tượng và khôi phục vai trò, ảnh hưởng vốn có của mình.
Ấn Độ cũng có sự phát triển vượt bậc về kinh tế và muốn vươn lên thành cường quốc khu vực. Ngay từ những năm cuối thế kỷ XXI, Ấn Độ đã thực hiện Chính sách hướng Đông nhằm khôi phục ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á. Nhật Bản từ lâu được xem là "người khổng lồ về kinh tế nhưng lại là kẻ tí hon về chính trị". Chính vì vậy, Nhật Bản muốn thay đổi hình ảnh của mình bằng cách gây dựng ảnh hưởng chính trị trên thế giới, đặc biệt là tại khu vực Đông Nam Á.
Tình hình khu vực Đông Nam Á Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình Đông Nam Á có những biến động phức tạp, trong đó là việc Mỹ và Nga giảm dần sự hiện diện của mình bằng việc rút các căn cứ quân sự ra khỏi khu vực. Việc này đã tạo cơ hội cho 2 Theo bài: Trung Quốc: Đau đầu với bài toán tốc độ tăng trưởng, đăng trên website: http://www.vn 3 Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đạt 3.305 tỷ USD, http://www.vn/Home/Du-tru-ngoai-te-cua- Trung-Quoc-dat-3305-ty-USD/20124/135468.vnplus 17 luan an Trung Quốc, nhảy vào lấp “chỗ trống” nhằm gia tăng ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy, Đông Nam Á trở thành địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn. Trong khi Mỹ đang nỗ lực chuyển dịch trọng tâm chiến lược sang châu Á – Thái Bình Dương, thì Trung Quốc cũng tích cực gia tăng ảnh hưởng của mình đối với khu vực, đồng thời, các cường quốc khác như Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, EU cũng tích cực can dự tới Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, tại Đông Nam Á, ASEAN cũng rất nỗ lực để củng cố nội khối và phát huy vai trò trung tâm của mình. Trong thập niên cuối của thế kỷ XX, ASEAN nỗ lực kết nạp thành viên mới nhằm tránh cho các nước Đông Nam Á bị lôi kéo, chia rẽ bởi các nước lớn. Chính vì vậy, từ năm 1995 đến năm 1999, ASEAN đã lần lượt kết nạp các nước Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia vào tổ chức. Như vậy, đến năm 1999, với việc Campuchia là quốc gia Đông Nam Á cuối cùng trở thành thành viên, mục tiêu biến ASEAN trở thành ngôi nhà chung của tất cả các quốc gia Đông Nam Á đã trở thành hiện thực.
Bước vào thế kỷ XXI, ASEAN đặt ra và nỗ lực thực hiện mục tiêu lớn lao hơn, đó là xây dựng Đông Nam Á thành một Cộng đồng các quốc gia hòa bình thịnh vượng. Để thực hiện mục tiêu này, ASEAN đã đưa ra ý tưởng thành lập Cộng đồng ASEAN (AC) vào năm 2020 với ba trụ cột là Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC); Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC). Để thực hiện mục tiêu này, năm 2004, ASEAN đã thông qua Kế hoạch hành động Viêng Chăn. Năm 2007, tại Cebu Philippines, các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định đẩy nhanh lộ trình hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN.
Theo đó, Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành vào năm 2015. Năm 2009, tại Hua Hin Thái Lan, các nhà lãnh đạo ASEAN nhất trí đổi tên Cộng đồng An ninh ASEAN thành Cộng đồng Chính trị An ninh ASEAN (APSC) và nhất trí thông qua Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị An ninh ASEAN, Cộng đồng Kinh tế ASEAN và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN. Về đối ngoại, ASEAN đã chứng tỏ được vai trò trung tâm của mình bằng việc thu hút sự tham gia hợp tác của nhiều nước, tổ chức, đặc biệt là các nước 18 luan an lớn, trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và EU thông qua các cơ chế hợp tác như đối tác đối thoại, đối tác chiến lược, ASEAN + 1, ASEAN + 3… Như vậy có thể thấy, giai đoạn cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động. Trật tự hai cực sụp đổ, một trật tự thế giới mới đang được hình thành.
Trong trật tự mới, Mỹ là siêu cường duy nhất, tuy nhiên, một số nước lớn đã nổi lên, đặc biệt là Trung Quốc, đã tạo nên sự cạnh tranh ảnh hưởng quyết liệt. Là một trong những địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Mỹ, khu vực Đông Nam Á, trong đó ASEAN là trung tâm, đã từng bước khẳng định được vị thế của mình. Tuy nhiên, tình hình Đông Nam Á vẫn tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn xuất phát cả từ bên ngoài và bên trong khu vực. Sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia Vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, quan hệ Campuchia – Trung Quốc vẫn còn khá lạnh nhạt.
Tuy nhiên, kể từ năm 2000 đến nay, quan hệ Campuchia – Trung Quốc đã không ngừng phát triển. Trung Quốc trở thành người bạn tốt, đáng tin cậy của Campuchia với việc không ngừng gia tăng ảnh hưởng ở Campuchia thông qua các lĩnh vực chính trị ngoại giao, kinh tế và văn hóa – xã hội…những điều đó không nằm ngoài mục đích áp đặt ảnh hưởng lên Campuchia, qua đó tác động chính sách đối ngoại trong khu vực Đông Nam Á. Gia tăng ảnh hưởng thông qua chính trị ngoại giao Tháng 10/2000 và tháng 11/2002, lần lượt Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã thực hiện các chuyến viếng thăm chính thức Campuchia; tháng 5 và tháng 7 năm 2005, Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni và Thủ tướng Hun Sen thăm Trung Quốc; ngoài ra còn có các chuyến viếng thăm lẫn nhau của các quan chức cấp cao trong chính phủ và lãnh đạo các đảng phái chính trị hai bên. Đặc biệt, từ ngày 7-8/4/2006, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã thăm chính thức Campuchia.
Campuchia và Trung Quốc ra Thông cáo chung, quyết 19 luan an định thành lập quan hệ đối tác hợp tác toàn diện. Tiếp đó, tháng 11 năm 2008, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì thăm Campuchia. Năm 2009, hai nước đã có nhiều đoàn cán bộ cấp cao của nhà nước và các chính đảng viếng thăm lẫn nhau, như chuyến thăm Trung Quốc của Quốc vương Sihamoni vào đầu tháng 9; của lãnh đạo các đảng FUNCINPEC, Sam Rainsy và CPP vào tháng 6 và tháng 8; Thủ tướng Campuchia, Hun Sen, đã có chuyến viếng thăm Trung Quốc và tham dự hội chợ ASEAN-Trung Quốc Expo diễn ra tại thành phố Nam Ninh vào ngày 15/10/2009; và chuyến viếng thăm Campuchia của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào ngày 22/12/2009. Tính đến 2014, Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã đi thăm Trung Quốc 11 lần.
Việc thiết lập Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện dịp Thủ tướng Campuchia Hun Sen thăm chính thức Trung Quốc từ ngày 13-17/12/2010 đã nâng mối quan hệ này lên tầm cao mới.