Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử thế giới / Quan hệ quốc tế với đề tài "Lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba (1959 - 2005)" tập trung tái hiện, phân tích và đúc kết toàn diện tiến trình quan hệ song phương giữa hai quốc gia trong gần nửa thế kỷ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong quan hệ quốc tế và hoạt động đối ngoại của Việt Nam, ba mục tiêu cơ bản mang tính xuyên suốt gồm: bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế. Mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Cuba được hình thành, tôi luyện từ thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng José Martí và chủ nghĩa quốc tế vô sản.

Tuy nhiên, trước khi luận án được thực hiện, tại cả Việt Nam và Cuba đều chưa có một công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ và bao quát toàn bộ lịch sử quan hệ nhiều mặt giữa hai nước từ năm 1959 đến năm 2005. Các tài liệu hiện có chủ yếu dừng lại ở các bài viết mang tính thời luận, hồi ký, tài liệu kỷ niệm hoặc chỉ khảo sát riêng lẻ từng khía cạnh, từng giai đoạn cụ thể. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba trong giai đoạn 1959 - 2005 là yêu cầu cấp thiết nhằm lấp khoảng trống học thuật trong Sử học của hai nước, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ chính sách đối ngoại hiện tại và tương lai.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể được đánh số như sau:

  1. Phục dựng bức tranh toàn cảnh, chân thực, khách quan và có hệ thống về tiến trình lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba từ ngày 1-1-1959 đến năm 2005 trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, thương mại, văn hóa, giáo dục, y tế và giao thông vận tải.
  2. Phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực cùng các yếu tố nội tại tác động đến sự vận động, phát triển của mối quan hệ song phương qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể (1959 - 1975, 1975 - 1991, 1991 - 2005).
  3. Làm rõ những đặc điểm cơ bản, đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn bang giao giữa hai nước và đưa ra các dự báo, nhận định có căn cứ khoa học về triển vọng phát triển quan hệ Việt Nam - Cuba trong những thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ song phương hai chiều giữa Việt Nam và Cuba từ năm 1959 đến năm 2005 dưới giác độ khoa học lịch sử và quan hệ quốc tế hiện đại.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 1-1-1959 (thời điểm Cách mạng Cuba thành công, nền Cộng hòa Cách mạng Cuba được thành lập) đến hết năm 2005 (mốc kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước, đồng thời đánh dấu chặng đường 15 năm vượt qua thử thách sau sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu). Luận án cũng có phần khái quát lịch sử liên hệ giữa hai dân tộc trước năm 1959 và điểm qua chiều hướng phát triển sau năm 2005.
  • Phạm vi không gian và chủ thể: Quan hệ giữa hai chủ thể nhà nước gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau này là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm cả quan hệ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) với Cộng hòa Cuba. Chính quyền Sài Gòn (Việt Nam Cộng hòa, 1955 - 1975) không thuộc đối tượng nghiên cứu do quan hệ đối địch trong chiến tranh.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận toàn diện các lĩnh vực hợp tác. Giai đoạn 1959 - 1991 đi sâu phân tích toàn bộ các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, viện trợ và văn hóa - xã hội; giai đoạn 1991 - 2005 tập trung trọng tâm vào quan hệ chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh và khái quát các nét cơ bản về kinh tế - thương mại do chế độ bảo mật tư liệu lưu trữ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa và đánh giá các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài.

Các công trình nghiên cứu trong nước

  1. Sách chuyên khảo và hồi ký, tập ký sự:

    • Nguyễn Công Hòa (1961), Thăm đất nước Cuba anh hùng, Nxb Lao động, Hà Nội: phản ánh tình đoàn kết hữu nghị và bản chất, triển vọng của Cách mạng Cuba đầu thập niên 1960.
    • Phạm Xuân Nam (1976), Lịch sử Cách mạng Cuba – Giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc 1953 - 1959, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (tái bản năm 2002 với tựa đề Tìm hiểu Lịch sử Cách mạng Cuba...): nghiên cứu phong trào giải phóng dân tộc, thân thế và tư tưởng José Martí.
    • Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam - Cuba (1997), Việt Nam - Cuba đoàn kết hữu nghị, Nxb Thế giới, Hà Nội: giới thiệu khái quát lịch sử đất nước Cuba và sơ lược quan hệ hữu nghị giữa hai nước trong 40 năm.
    • Nguyễn Ngọc Mão (1995), Quá trình hình thành và phát triển của phong trào ủng hộ Việt Nam ở Cuba giai đoạn 1959 - 1975, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Viện Sử học, Hà Nội: chuyên khảo duy nhất trước đó tiếp cận có hệ thống phong trào ủng hộ của nhân dân Cuba đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam về mặt chính trị và tinh thần.
  2. Bài báo khoa học và tham luận hội thảo:

    • Trần Quỳnh Cư (1967), "Mấy nét về Mặt trận nhân dân thế giới chống Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 99.
    • Trần Huy Liệu (1968), "Gắn liền cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại của ta với sự ủng hộ to lớn của các bạn quốc tế", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 109.
    • Ca Văn Thỉnh (1973), "José Martí và tình đoàn kết lâu đời giữa nhân dân Cuba và Việt Nam", Tạp chí Văn học, số 5.
    • Nguyễn Minh Phương (1979), "Cuba tấm gương sinh động về chủ nghĩa quốc tế vô sản", Tạp chí Cộng sản, số 1.
    • Các công trình của Nguyễn Ngọc Mão: "Vài nét về sự ủng hộ của Cuba đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam" (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1/1982); "Cuba và Mỹ Latinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam" (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2/1985); "Tinh thần Granma và chủ nghĩa quốc tế của Cuba" (Kỷ yếu Hội thảo khoa học, 1986).
    • Nguyễn Đăng Vinh, Ngô Văn Chung (1986), trong sách Quân đội của Hòn đảo Tự do, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
    • Các tham luận của Ngô Phương Bá và Lý Văn Sáu tại Hội thảo kỷ niệm 30 năm Cách mạng Cuba thành công (1989).
    • Nguyễn Khắc Sử (2005), "Việt Nam - Cuba: Quan hệ truyền thống, mẫu mực, thủy chung", Tạp chí Cộng sản, số 23.
    • Đỗ Văn Tài (2005), "45 năm mối tình hữu nghị thủy chung son sắt Việt Nam - Cuba", báo Nhân Dân (ngày 2-12-2005).
    • Hội thảo kỷ niệm 150 năm ngày sinh José Martí (2003) với các bài viết: "Những nét tương đồng giữa José Martí và Hồ Chí Minh" của Hoàng Hiệp và "Tư tưởng José Martí: Cội nguồn của tình đoàn kết Cuba - Việt Nam" của Ngô Phương Bá.

Các công trình nghiên cứu nước ngoài

  • Tran Buu Kiem in Cuba Cuadernos de Solidaridad (La Habana, 1969): ghi lại chuyến thăm Cuba của ông Trần Bửu Kiếm (Trưởng ban Đối ngoại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).
  • Vì Việt Nam do Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam xuất bản tại La Habana (1974): tổng kết 10 năm phong trào ủng hộ Việt Nam (1963 - 1973).
  • Vla-đi-mi-rốp (1980), Cuba – 20 năm chính sách đối ngoại mới, Nxb Quan hệ Quốc tế, Mát-xcơ-va: phân tích đường lối đối ngoại của Cuba và tinh thần đoàn kết với Việt Nam thông qua văn kiện Đại hội I Đảng Cộng sản Cuba (1975).
  • Tác phẩm về Che Guevara (Nxb Trẻ TP. Hồ Chí Minh, 1987): in 2 bài phát biểu của Che Guevara về ý nghĩa của chiến tranh nhân dân Việt Nam đối với phong trào giải phóng dân tộc tại Mỹ Latinh và châu Phi.
  • Raúl Valdés Vivó (1990), Tối mật, Những người Cuba trên đường Hồ Chí Minh, Công ty Xuất bản Đối ngoại: phản ánh hoạt động xây dựng đường Trường Sơn của chuyên gia, công nhân Cuba giai đoạn 1974 - 1975.

Khoảng trống luận án giải quyết

Toàn bộ các công trình trên đều mang tính chuyên đề hẹp, phản ánh từng sự kiện, từng lát cắt hoặc dừng lại ở mức độ tổng kết phong trào đoàn kết nhân dân thời kỳ chiến tranh. Chưa có công trình nào khảo cứu toàn bộ tiến trình lịch sử quan hệ song phương trải dài qua các biến thiên lịch sử từ 1959 đến 2005 trên đầy đủ các trụ cột ngoại giao, quân sự, kinh tế, viện trợ, kỹ thuật nông nghiệp và giao lưu văn hóa. Luận án đặt vị trí là công trình khoa học đầu tiên tái hiện một cách hệ thống, đa chiều và liên tục lịch sử quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nền tảng lý luận và khung phân tích

Luận án vận dụng nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ. Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét, lý giải các hiện tượng, sự kiện lịch sử trong mối liên hệ biện chứng khách quan; phân tích quan hệ quốc tế xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, bối cảnh thời đại và lợi ích dân tộc chân chính kết hợp với nghĩa vụ quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái dựng tiến trình quan hệ Việt Nam - Cuba theo đúng trình tự thời gian, tôn trọng tính cụ thể, tính khách quan và tính chân thực lịch sử.
  • Phương pháp logic: Phân tích, khái quát bản chất, quy luật vận động, mối quan hệ nhân quả và xu hướng phát triển của mối quan hệ song phương từ các sự kiện lịch sử cụ thể.
  • Các phương pháp hỗ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, loại suy nhằm làm rõ những nét tương đồng và đặc thù giữa hai nước; phương pháp thống kê để định lượng hóa các sự kiện, nguồn viện trợ, kim ngạch thương mại; phương pháp điền dã khảo sát thực tế tại các công trình biểu tượng hợp tác.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án được khai thác theo thứ tự ưu tiên:

  1. Văn kiện Đảng và Nhà nước hai nước: Các văn kiện chính thức, chủ trương đối ngoại, hiệp ước song phương, tuyên bố chung, thông cáo báo chí và các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo (Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Fidel Castro, Osvaldo Dorticós, Raúl Castro...).
  2. Tài liệu lưu trữ gốc: Hồ sơ các chuyến thăm cấp cao, biên bản đàm phán, nghị định thư và biên bản các kỳ họp của Ủy ban Liên chính phủ về hợp tác kinh tế và KHKT Việt Nam - Cuba bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Hà Nội) thuộc Phông Phủ Thủ tướng, Phông Quốc hội, Phông các Bộ, Ngành.
  3. Tài liệu thông tấn và báo chí: Bản tin Tài liệu tham khảo đặc biệt (TKĐB) của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN); Bản tin Việt Nam - Cuba đoàn kết hữu nghị; các bài viết trên báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Kinh tế, Thương mại, Đầu tư...
  4. Tư liệu điền dã thực tế: Khảo sát thực địa, tài liệu thành văn và tư liệu phim ảnh tại các công trình hợp tác: Khách sạn Thắng Lợi (Hà Nội), Trung tâm bò giống Moncada (Ba Vì, Hà Tây), Xí nghiệp gà giống Ba Vì và Lương Mỹ (Hà Tây), Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới (Quảng Bình), tuyến đường Xuân Mai - Ba Vì và tuyến đường Trường Sơn.
  5. Dữ liệu điện tử: Số liệu thống kê từ cổng thông tin của Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Giao thông Vận tải và Bưu điện, Bộ Xây dựng.

Nội dung chính theo từng chương

Khái quát quan hệ Việt Nam - Cuba trước năm 1959

Cuối thế kỷ XIX, nhà yêu nước Cuba José Martí (1853 - 1895) là người Mỹ Latinh đầu tiên tìm hiểu và giới thiệu về Việt Nam thông qua tác phẩm "Cuộc dạo chơi trên đất An Nam" (Un paseo por la tierra de los Anamitas), đăng trên Tạp chí thiếu nhi Tuổi Vàng (La Edad de Oro). Tác phẩm đã mô tả cuộc sống lao động cần cù, truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt Nam và tố cáo tội ác bóc lột của thực dân Pháp.

Về phía Việt Nam, đầu thế kỷ XX, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người đầu tiên hiểu biết sâu sắc về Cuba khi tiếp xúc với các nhà cách mạng Cuba trong phong trào Quốc tế Cộng sản từ những năm 1920. Khi cuộc tấn công pháo đài Moncada nổ ra ngày 26-7-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận định vai trò lịch sử của phong trào đối với phong trào giải phóng dân tộc thế giới. Sự tương đồng về hoàn cảnh bị áp bức và lý tưởng giải phóng dân tộc đã đặt nền móng tư tưởng vững chắc cho mối quan hệ hữu nghị thủy chung giữa hai nước.


Chương 1: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1959 - 1975

1. Bối cảnh lịch sử thiết lập quan hệ

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự hai cực hình thành, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa mở rộng từ châu Âu sang châu Á với dân số gần 1 tỷ người, thành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế - SEV (1949) và Khối Hiệp ước Vácsava (5-1955). Đế quốc Mỹ cầm đầu phe tư bản chủ nghĩa, triển khai chiến lược "Trả đũa ồ ạt", thành lập NATO (1949) và khối quân sự SEATO (9-1954) nhằm bao vây các nước xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc.

Tại Cuba, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi ngày 1-1-1959. Chính quyền Cách mạng tiến hành cải cách ruộng đất (5-1959), cải cách đô thị (10-1960) và quốc hữu hóa tài sản của tư bản độc quyền Mỹ trị giá khoảng 1 tỷ USD. Trước sự bao vây, cấm vận và hành động can thiệp quân sự tại Vịnh Giron của Mỹ, Thủ tướng Fidel Castro tuyên bố đưa Cuba tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô (5-1960) và các nước xã hội chủ nghĩa.

Tại Việt Nam, sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Mỹ can thiệp miền Nam lập nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1-1959) và Đại hội III Đảng Lao động Việt Nam (9-1960) đề ra đường lối chiến lược cách mạng hai miền, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ngày 2-12-1960, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Cuba chính thức ký Hiệp định thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ tại Hà Nội.

2. Quan hệ chính trị, ngoại giao và đoàn kết nhân dân

  • Hoạt động ngoại giao cấp cao: Phái đoàn quân sự Cuba do Thiếu tá Viliam Calvet Rodríguez dẫn đầu thăm Việt Nam (5/1960); phái đoàn đàm phán do Thứ trưởng Ngoại giao Herto Rodríguez dẫn đầu ký hiệp định ngoại giao (12/1960). Các chuyến thăm lịch sử tiếp theo gồm: Tổng thống Osvaldo Dorticós Torrado (10-1966) - nguyên thủ quốc gia Cuba đầu tiên thăm Việt Nam; Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Cuba (3-1974); và đặc biệt là chuyến thăm lịch sử của Thủ tướng Fidel Castro (9-1973) - nguyên thủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất vượt giới tuyến quân sự vào vùng giải phóng Quảng Trị.
  • Phong trào đoàn kết quần chúng: Tháng 9-1963, Cuba thành lập Ủy ban Cuba đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam (do Melba Hernández - nữ chiến sĩ Moncada làm Chủ tịch). Phong trào lan tỏa sâu rộng: phong trào thi tìm hiểu Việt Nam; các đoàn nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo Cuba sang chiến trường Việt Nam sáng tác và đưa tin (Nicolás Guillén, Félix Pita Rodríguez, Marta Rojas, Raúl Valdés Vivó, nhà làm phim Santiago Álvarez Castro với bộ phim "79 mùa xuân"). Cuba dịch và xuất bản Nhật ký trong tù, Từ góc sân nhà em, Đất nước đứng lên; tổ chức quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh trong 10 ngày (1969); tuyên bố năm 1967 là "Năm Việt Nam anh hùng".

3. Hợp tác quốc phòng

  • Viện trợ vật chất và tinh thần: Năm 1963, Thủ tướng Fidel Castro trực tiếp trao cho đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tấm ngân phiếu trị giá 20 vạn USD (rút tại ngân hàng Anh) để mua vũ khí. Hằng năm Cuba viện trợ 5 vạn tấn đường, cung cấp máu, thuốc men, tiếp nhận điều trị thương binh nặng. Cuba hỗ trợ cải tạo nâng cấp Đường 9 - Nam Lào, đường Trường Sơn; cử đội y tế tình nguyện trên 20 người; các thủy thủ tàu buôn Cuba bám trụ "chia lửa" tại Cảng Hải Phòng (1965 - 1968 và 1972). Đài Phát thanh Cuba nhường riêng một kênh phát sóng tiếng Anh cho Đài Tiếng nói Việt Nam (6 lần/ngày, 30 phút/lần) phát sang Bắc Mỹ và Caribe.
  • Trao đổi chuyên gia quân sự: Cuba cử nhiều phái đoàn sĩ quan sang Việt Nam nghiên cứu kinh nghiệm chiến tranh nhân dân, tác chiến đặc công, phòng không sơ tán và hiệp đồng binh chủng vào các năm 1962, 1967 (Đoàn do Thiếu tá Flavio Bravo Pardo dẫn đầu), 1970 (3 cán bộ), 1971 (5 cán bộ) và đầu năm 1975 (15 cán bộ khảo sát trực tiếp tại chiến trường miền Nam).

4. Hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật và viện trợ

  • Viện trợ đường và dây thừng Bạch chúng (Henequen): Giai đoạn 1961 - 1975, Cuba viện trợ tổng cộng 892.000 tấn đường (quy đổi trị giá 178,4 triệu USD) và 1.690 tấn dây thừng Henequen chuyên dụng neo tàu biển (trị giá 507.000 USD).
Năm Đường viện trợ (nghìn tấn) Dây thừng Henequen (tấn)
1961 5 -
1962 7 -
1963 30 -
1964 30 -
1965 30 -
1966 30 -
1967 60 260
1968 100 260
1969 100 260
1970 120 300
1971 120 90
1972 60 430
1973 60 -
1974 60 -
1975 80 90
Tổng cộng 892 1.690
  • Viện trợ 6 công trình kinh tế - xã hội toàn bộ: Tổng vốn đầu tư 130 triệu USD gồm: Khách sạn Thắng Lợi (324 giường, Hà Nội), Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới (450 giường, Quảng Bình), 10 trại chăn nuôi bò sữa Mộc Châu (quy mô 120 con/trại), Trại gà giống Lương Mỹ (Hà Tây), Tuyến đường giao thông Xuân Mai - Ba Vì (59 km) và nâng cấp một số cung đường Trường Sơn. Cuba cũng xóa toàn bộ nợ mậu dịch cho Việt Nam.
  • Hợp tác chăn nuôi bò và phát triển đồng cỏ: Nhập khẩu 982 bò giống Holstein (1969 - 1973) nuôi tại Mộc Châu, Sao Đỏ, Phù Đổng, Ba Vì (đến 1975 nhân đàn lên 1.733 con); 20 bò đực giống nâu Thụy Sĩ; 200 bò cái giống Cebú (nhân lên 320 con tại Phú Mãn, Hòa Bình). Tổng đàn bò giống Cuba giúp ban đầu là 1.232 con phát triển lên 2.353 con vào cuối năm 1975. Trung tâm Ba Vì sản xuất trên 1 triệu liều tinh đông viên. Xây dựng Trung tâm nghiên cứu nhân giống cỏ 10 ha tại Mộc Châu và cung cấp gần 50 giống cỏ năng suất cao (Pangola, Glycine, Cosdu, Kudzu, Javanica, cỏ voi).
  • Hợp tác chăn nuôi gà công nghiệp (từ 1968): Cuba viện trợ 11 dòng gà giống thuần chủng nuôi tại Ba Vì và Tam Đảo, đào tạo cán bộ, chuyển giao công nghệ thụ tinh và ấp trứng, phát triển thành 71 cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp lớn trên toàn quốc, giúp Việt Nam hoàn toàn tự túc được nguồn gà giống thương phẩm và xuất khẩu hỗ trợ giống cho Lào.

Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1975 - 1991

Luận án phân tích sự phát triển của quan hệ song phương trong hoàn cảnh lịch sử mới sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất (30-4-1975) và cả hai nước cùng tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nội dung trọng tâm gồm:

  • Chính trị - Ngoại giao: Duy trì trao đổi đoàn cấp cao thường niên giữa hai Đảng và hai Nhà nước, phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn quốc tế như Liên Hợp Quốc, Phong trào Không liên kết (đặc biệt khi Cuba đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Hội nghị Thượng đỉnh Không liên kết lần thứ 6 tại La Habana năm 1979). Ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Cuba năm 1982.
  • Hợp tác kinh tế và KHKT: Hoạt động của Ủy ban Liên chính phủ về Hợp tác Kinh tế và Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam - Cuba đi vào nền nếp; mở rộng chương trình hợp tác nông nghiệp, mía đường, công nghệ sinh học và đào tạo sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam tại các trường đại học của Cuba.
  • Hợp tác y tế, văn hóa và giáo dục: Đội ngũ chuyên gia y tế, bác sĩ Cuba tiếp tục hỗ trợ trực tiếp cho các bệnh viện tuyến đầu của Việt Nam; duy trì chương trình trao đổi học bổng văn hóa, nghệ thuật và chuyển giao kỹ thuật công nghiệp nhẹ.

Chương 3: Quan hệ Việt Nam - Cuba 1991 - 2005

Chương này luận giải tiến trình vượt qua thách thức của quan hệ Việt Nam - Cuba sau khi trật tự thế giới hai cực tan rã, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ và Liên Xô tan rã (1991).

Các nội dung chủ yếu gồm:

  • Tác động của bối cảnh quốc tế: Sự khủng hoảng của hệ thống xã hội chủ nghĩa khiến phong trào cách mạng thế giới thoái trào. Việt Nam triển khai đường lối đổi mới tư duy đối ngoại (đa phương hóa, đa dạng hóa), trong khi Cuba bước vào "Thời kỳ đặc biệt trong thời bình" (Período Especial), đối mặt với khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng do sự thắt chặt cấm vận của Mỹ.
  • Quan hệ chính trị - ngoại giao và an ninh - quốc phòng: Hai nước khẳng định sự kiên định đối với con đường xã hội chủ nghĩa; tăng cường đối thoại chiến lược và chia sẻ kinh nghiệm lý luận, thực tiễn đổi mới/cải cách kinh tế. Việt Nam tích cực ủng hộ Cuba đấu tranh đòi dỡ bỏ cấm vận tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
  • Hợp tác kinh tế - thương mại và đầu tư: Chuyển đổi cơ chế thanh toán mậu dịch từ nghị định thư hỗ trợ phi thương mại sang cơ chế thị trường linh hoạt; đẩy mạnh các chương trình hợp tác sản xuất lúa gạo của Việt Nam tại Cuba nhằm hỗ trợ an ninh lương thực; duy trì các dự án liên doanh thương mại, viễn thông và trao đổi sản phẩm công nghệ sinh học - y dược thế mạnh của Cuba.

Chương 4: Đặc điểm, bài học kinh nghiệm và triển vọng quan hệ Việt Nam - Cuba những thập niên đầu thế kỷ XXI

Từ tiến trình lịch sử 47 năm (1959 - 2005), luận án đúc kết các nội dung lý luận:

  • Đặc điểm nổi bật: Quan hệ Việt Nam - Cuba mang tính chất quốc tế vô sản mẫu mực, thủy chung son sắt, vượt lên trên các tính toán lợi ích thương mại thuần túy; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần giải phóng dân tộc và lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội; hai dân tộc luôn có sự thấu hiểu, tương trợ và đồng thuận chiến lược sâu sắc trong mọi bước thăng trầm của lịch sử.
  • Bài học kinh nghiệm: (1) Kiên định nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế chân chính; (2) Luôn chủ động gắn kết lợi ích quốc gia - dân tộc với nghĩa vụ quốc tế cao cả; (3) Linh hoạt đổi mới phương thức hợp tác kinh tế - kỹ thuật phù hợp với thực tiễn chuyển đổi thể chế kinh tế của từng nước trong từng giai đoạn; (4) Giữ gìn và phát huy nền tảng tình cảm hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước như một nguồn lực chính trị - ngoại giao quý báu.
  • Triển vọng quan hệ đầu thế kỷ XXI: Luận án đưa ra các dự báo và cơ sở khẳng định mối quan hệ song phương tiếp tục được củng cố vững chắc về chính trị, từng bước tháo gỡ các nút thắt cơ chế để phát triển kinh tế thương mại tương xứng với tiềm năng chính trị - ngoại giao tốt đẹp sẵn có.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án là công trình khoa học đầu tiên phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống và chân thực bức tranh lịch sử quan hệ song phương Việt Nam - Cuba trong suốt gần nửa thế kỷ (1959 - 2005) trong bối cảnh quốc tế và khu vực đầy biến động phức tạp.
  2. Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử gốc, tin cậy cùng các luận chứng khoa học chặt chẽ để khẳng định mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện Việt Nam - Cuba là hình mẫu tiêu biểu trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại.
  3. Làm sáng tỏ tính quy luật, các đặc trưng bản chất và đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận về quan hệ giữa các quốc gia có cùng hệ tư tưởng và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Kết quả nghiên cứu và các bài học kinh nghiệm rút ra cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam (Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương...) tham khảo nhằm xây dựng chương trình, chiến lược hợp tác song phương lâu dài, bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  • Hệ thống dữ liệu, bảng biểu thống kê và tư liệu điền dã phong phú đóng vai trò làm tài liệu tham khảo giá trị cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các chuyên đề Lịch sử ngoại giao Việt Nam, Lịch sử thế giới hiện đại và Quan hệ quốc tế tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do quy định về thời hạn giải mật và chế độ bảo mật đối với tài liệu lưu trữ ngoại giao giai đoạn 1991 - 2005, việc tiếp cận các văn bản chuyên sâu về kinh tế thương mại, số liệu ngân sách và một số lĩnh vực an ninh đặc biệt còn gặp rào cản nhất định. Do đó, phần nghiên cứu kinh tế giai đoạn sau năm 1991 chỉ mới dừng lại ở việc phản ánh những nét cơ bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khi các nguồn tài liệu lưu trữ ngoại giao và hợp tác kinh tế song phương giai đoạn sau Đổi mới được giải mật đầy đủ, các nghiên cứu tiếp theo cần đi sâu định lượng hóa các dòng vốn đầu tư trực tiếp, liên doanh sản xuất, chuyển giao công nghệ sinh học và hiệu quả của các dự án hợp tác nông nghiệp tại Cuba.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ hoạch định chính sách và ngoại giao: Tham khảo các bài học lịch sử về xử lý quan hệ đồng minh, cơ chế phối hợp trong các tổ chức quốc tế và kinh nghiệm tháo gỡ vướng mắc trong hợp tác kinh tế thời kỳ chuyển đổi.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho các môn học Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Lịch sử Ngoại giao Việt Nam, Lịch sử khu vực Mỹ Latinh và Phong trào Không liên kết.
  • Các chuyên gia ngành nông nghiệp và y tế: Nắm bắt lịch sử du nhập, nguồn gốc và quá trình thuần hóa, phát triển các giống bò sữa Holstein, bò Cebú, 11 dòng gà công nghiệp giống gốc và hệ thống đồng cỏ do Cuba chuyển giao cho Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Mốc thời gian chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Cuba là khi nào và do ai đại diện ký kết?
Quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Cuba được chính thức thiết lập vào ngày 2-12-1960 tại Hà Nội. Đại diện ký kết là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cuba Herto Rodríguez.

2. Giai đoạn 1961 - 1975, Cuba đã viện trợ cho Việt Nam bao nhiêu đường và dây thừng Henequen?
Trong giai đoạn này, Cuba đã viện trợ cho Việt Nam tổng cộng 892.000 tấn đường (trị giá 178,4 triệu USD tính theo thời giá quốc tế bình quân 200 USD/tấn) và 1.690 tấn dây thừng Henequen chuyên dụng dùng cho tàu thuyền (trị giá 507.000 USD).

3. Sáu công trình kinh tế - xã hội toàn bộ do Cuba viện trợ xây dựng cho Việt Nam gồm những công trình nào?
Sáu công trình viện trợ (với tổng số vốn 130 triệu USD, trong đó 5 công trình hoàn thành trước năm 1975) gồm: Khách sạn Thắng Lợi (324 giường tại Hà Nội), Bệnh viện Đồng Hới (450 giường tại Quảng Bình), 10 trại chăn nuôi bò sữa Mộc Châu (Sơn La), Trại gà giống Lương Mỹ (Hà Tây), Tuyến đường bộ Xuân Mai - Ba Vì (dài 59 km) và một số cung đường chiến lược trên đường Trường Sơn.

4. Cuba đã hỗ trợ Việt Nam phát triển đàn gia súc và gia cầm giống gốc như thế nào trong thời kỳ chiến tranh?
Cuba đã viện trợ cho Việt Nam 1.232 con bò giống ban đầu (gồm 982 bò giống sữa Holstein, 20 bò giống Thụy Sĩ, 230 bò giống Cebú; nhân đàn lên 2.353 con vào cuối năm 1975), cung cấp gần 50 giống cỏ, xây dựng Trung tâm tinh đông viên Ba Vì và chuyển giao 11 dòng gà giống công nghiệp thuần chủng gốc thịt và trứng, tạo nền móng xây dựng 71 cơ sở nuôi gà công nghiệp trên toàn quốc.


Kết luận

Luận án "Lịch sử quan hệ Việt Nam - Cuba (1959 - 2005)" là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, tái hiện toàn diện tiến trình bang giao song phương qua các chặng đường phát triển với phương pháp luận duy vật lịch sử và nguồn tư liệu phong phú. Luận án đã làm rõ sự giúp đỡ vô tư, chí tình của Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ và công cuộc xây dựng đất nước của Việt Nam, cũng như sự đồng hành kiên định của hai nước trong giai đoạn Đổi mới và Cải cách. Các bài học kinh nghiệm và luận cứ khoa học được đúc kết từ công trình có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với việc hoạch định chính sách đối ngoại và củng cố tình đoàn kết truyền thống mẫu mực giữa hai dân tộc.