Tổng quan luận án

Quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai vận động trong trật tự hai cực Yalta, chịu sự chi phối sâu sắc của Chiến tranh Lạnh và sự đối đầu ý thức hệ giữa hai khối tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Sau thất bại năm 1945, Nhật Bản đặt dưới sự chiếm đóng của lực lượng Đồng minh (thực tế là quân đội Mỹ) đến năm 1952, sau đó từng bước phục hồi kinh tế và thực thi chính sách đối ngoại gắn liền với khuôn khổ an ninh Nhật - Mỹ. Trong khi đó, sau Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị đối lập: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam.

Trong bối cảnh đó, chính phủ Nhật Bản công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với chính quyền Sài Gòn (VNCH), đồng thời không công nhận chính phủ Hà Nội (VNDCCH) cho đến tháng 9/1973. Tuy vậy, mối liên hệ giữa Nhật Bản với miền Bắc Việt Nam vẫn được duy trì liên tục thông qua kênh ngoại giao nhân dân, các chính đảng cánh tả, tổ chức công đoàn và thương mại tư nhân. Khoảng trống nghiên cứu lớn tại Việt Nam trước đây là việc phân tích lịch sử quan hệ song phương giai đoạn 1954 - 1975 chưa thật sự toàn diện; phần lớn công trình chỉ tập trung vào quan hệ Nhật Bản - VNCH hoặc khảo cứu giai đoạn cổ - trung - cận đại, trong khi quan hệ Nhật Bản - VNDCCH ít được khảo sát do rào cản tư liệu và định kiến ý thức hệ thời Chiến tranh Lạnh.

Mục đích nghiên cứu: Khôi phục và làm sáng tỏ một cách toàn diện, có hệ thống mối quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975; qua đó bổ khuyết các khoảng trống nghiên cứu, định vị vai trò của giai đoạn 1954 - 1975 trong tiến trình lịch sử quan hệ hai nước và đúc kết các bài học kinh nghiệm.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm sáng tỏ quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 1954 - 1965 trên cả hai phương diện: quan hệ chính thức giữa Nhật Bản với VNCH (chính trị, ngoại giao, bồi thường chiến tranh, viện trợ, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục) và quan hệ phi chính thức giữa các lực lượng xã hội Nhật Bản với VNDCCH (sự ủng hộ của các đảng cánh tả, đoàn thể nhân dân, hồi hương người Nhật "Việt Nam mới", thương mại tư nhân).
  2. Làm sáng tỏ quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975 dưới tác động của sự leo thang chiến tranh của Mỹ: thái độ của chính phủ Nhật Bản, hoạt động hợp tác toàn diện giữa Nhật Bản với VNCH, phong trào phản chiến ủng hộ Việt Nam tại Nhật Bản, tiến trình duy trì thương mại và đàm phán đi đến thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức Nhật Bản - VNDCCH năm 1973.
  3. Phân tích các đặc trưng cơ bản của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 và rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ việc phát triển quan hệ song phương.

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, bao gồm đồng thời quan hệ Nhật Bản - VNCH và quan hệ Nhật Bản - VNDCCH.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 1954 (ký kết Hiệp định Genève) đến năm 1975 (kết thúc Chiến tranh Việt Nam). Luận án cũng khảo lược bối cảnh lịch sử từ thế kỷ 8 đến trước 1954 và liên hệ sau 1975 để bảo đảm tính liên tục logic.
  • Phạm vi không gian: Mối quan hệ song phương giữa Nhật Bản và Việt Nam, đặt trong tương quan so sánh với các chủ thể quốc tế có tác động trực tiếp gồm Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước của học giả trong nước và quốc tế theo các nhóm chủ đề chuyên biệt:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây tại Việt Nam thường nghiên cứu tách rời quan hệ Nhật Bản - VNCH hoặc chỉ đề cập sơ lược các phong trào nhân dân ủng hộ VNDCCH. Ở nước ngoài, công trình của Shiraishi Masaya (1990) tuy có tính hệ thống nhưng dung lượng dành cho VNDCCH còn khiêm tốn. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách đặt toàn bộ tiến trình lịch sử 1954 - 1975 vào một cấu trúc nghiên cứu thống nhất, đối chiếu song song hai mối quan hệ giữa Nhật Bản với hai miền Việt Nam trên nền tảng nguồn tài liệu lưu trữ gốc từ cả hai quốc gia.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở phương pháp luận: Luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx - Lenin để nhìn nhận các sự kiện lịch sử trong tiến trình vận động, mối liên hệ qua lại và tính quy luật khách quan. Bên cạnh đó, luận án kết hợp cách tiếp cận của Chủ nghĩa hiện thực (Realism) trong quan hệ quốc tế nhằm phân tích chính sách đối ngoại của Nhật Bản dựa trên lợi ích quốc gia, tương quan quyền lực và mục tiêu an ninh - kinh tế.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Sử dụng chủ đạo phương pháp lịch sử (phục dựng chân thực tiến trình diễn biến theo thời gian) và phương pháp logic (xác định bản chất, đặc trưng và quy luật vận động của mối quan hệ).
    • Kết hợp các thao tác khoa học: phân tích văn bản, tổng hợp tư liệu, so sánh lịch đại (chiều dọc thời gian) và so sánh đồng đại (chiều ngang giữa các chủ thể cùng thời điểm).
  • Nguồn tư liệu khai thác:
    • Tư liệu tiếng Nhật: Sách Xanh Ngoại giao của Bộ Ngoại giao Nhật Bản (1957 - 1975); bộ Văn kiện - Niên biểu ngoại giao chủ yếu của Nhật Bản của Viện Nghiên cứu Hòa bình Kajima (4 tập); Tuyển tập tư liệu quan hệ Nhật - Mỹ 1945 - 1997 (Hosoya Chihiro chủ biên); Biên bản các phiên họp Quốc hội Nhật Bản (kokkai.jp); Văn kiện và tài liệu lịch sử của Đảng Cộng sản Nhật Bản, Đảng Xã hội Nhật Bản, Tổng Công đoàn Nhật Bản (Sōhyō), Hội Mậu dịch Nhật - Việt (1976, 1991), Hội Hữu nghị Nhật - Việt (1985).
    • Tư liệu tiếng Việt: Văn kiện Đảng toàn tập; tài liệu lưu trữ về chính quyền VNCH tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh) gồm các phông Phủ Tổng thống, Phủ Thủ tướng, Bộ Ngoại giao; tài liệu lưu trữ về VNDCCH tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Hà Nội) gồm phông Phủ Thủ tướng và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.

Nội dung chính theo từng chương

Danh mục bảng số liệu thống kê được tác giả xây dựng để phân tích diễn biến kinh tế, viện trợ, thương mại và giao lưu nhân sự giữa Nhật Bản và hai miền Việt Nam:

Mã bảng Tên bảng số liệu trong văn bản luận án
Bảng 2.1 Tiến độ giải ngân tiền bồi thường chiến tranh của Nhật Bản cho VNCH
Bảng 2.2 Các hạng mục và khoản chi từ tiền bồi thường phục vụ xây dựng nhà máy thủy điện Đa Nhim (triệu yên)
Bảng 2.3 Các dự án và khoản chi còn lại của tiền bồi thường sau khi xây dựng nhà máy Đa Nhim (triệu yên)
Bảng 2.4 Một số khoản viện trợ y tế, dân sinh của chính phủ Nhật Bản cho VNCH giai đoạn 1961 - 1964
Bảng 2.5 Thu nhập của Nhật Bản từ những khoản mua dựa vào ngân quỹ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ, 1952 – 1961
Bảng 2.6 Xuất khẩu của Nhật Bản sang Nam Việt Nam thông qua Cơ quan Phát triển (Hợp tác) Quốc tế ICA (AID) giai đoạn 1956 – 1963 (triệu USD)
Bảng 2.7 Buôn bán của Nhật Bản với Việt Nam, Campuchia và Lào 1956 – 1960 (ngàn USD)
Bảng 2.8 Buôn bán của Nhật Bản với Nam Việt Nam, 1956 - 1965 (ngàn USD)
Bảng 2.9 Học bổng Chính phủ Nhật Bản cấp cho các nước châu Á
Bảng 2.10 Thương mại hai chiều Nhật Bản - VNDCCH (1956 - 1965) (ngàn yên)
Bảng 3.1 Viện trợ Nhật Bản cho VNCH (USD)
Bảng 3.2 Viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật Bản cho VNCH giai đoạn 1966 - 1975 (triệu yên)
Bảng 3.3 Các khoản cho vay giữa Nhật Bản với VNCH (tỷ yên)
Bảng 3.4 Buôn bán của Nhật Bản với Nam Việt Nam, 1956 - 1974 (ngàn USD)
Bảng 3.5 Xuất khẩu của Nhật sang Nam Việt Nam, 1956 - 1974 (ngàn USD)
Bảng 3.6 Nhập khẩu của Nhật từ Nam Việt Nam, 1956 - 1974 (ngàn USD)
Bảng 3.7 Tình hình đầu tư nước ngoài tại miền Nam Việt Nam (1963 - 1972)
Bảng 3.8 Đầu tư Nhật Bản tại VNCH (1963 - 8/1972)
Bảng 3.9 Thương mại hai chiều Nhật Bản - VNDCCH (1964 - 1975) (ngàn yên)
Bảng 3.10 Thương mại Nhật Bản với VNDCCH (1970 - 1975) (triệu USD)
Bảng 3.11 Số khách viếng thăm lẫn nhau Nhật Bản - VNDCCH 1969 – 1974 (người)

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Chương 1 tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân chia các công trình thành các cụm vấn đề: nghiên cứu tổng quan quan hệ Việt - Nhật qua các thời kỳ lịch sử; nghiên cứu quan hệ chính trị, kinh tế, viện trợ giữa Nhật Bản và chính quyền VNCH; các bài khảo cứu về mối liên hệ giữa Nhật Bản và VNDCCH qua kênh Hội Hữu nghị và Hội Mậu dịch; các chuyên đề về phong trào phản chiến Beheiren, vai trò của "Người Nhật Việt Nam mới" và tiến trình đàm phán ngoại giao năm 1973. Trên cơ sở phân tích thành tựu và chỉ ra những điểm còn phiến diện hoặc thiếu hụt tư liệu của giới học thuật, chương này xác lập rõ cơ sở khoa học và tính độc lập của đề tài luận án.

Chương 2: Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam (1954 - 1965)

Chương 2 phân tích các nhân tố lịch sử và bối cảnh quốc tế tác động đến quan hệ song phương:

  • Tiền đề lịch sử và bối cảnh: Điểm lại các tiếp xúc từ thế kỷ 8 (Abe no Nakamaro, Heiguchi Hironari), sự tương đồng trong chống quân Nguyên Mông thế kỷ 13, hoạt động Châu Ấn thuyền tại Hội An thế kỷ 17 (giai đoạn 1604 - 1635 có hơn 40% trong số 356 thương thuyền Nhật đến Việt Nam), phong trào Đông Du đầu thế kỷ 20, và sự kiện khoảng 600 người Nhật ở lại giúp Việt Minh kháng chiến (1945 - 1954). Về bối cảnh sau năm 1945, sự ra đời của khối SEATO (1954), Hiệp ước Hòa bình San Francisco (1951), Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ (1951), các khuyến nghị NSC 13/2, NSC 48/1, NSC 125/2, NSC 5516/1 và Hiệp định Hỗ trợ Phòng thủ Lẫn nhau MSA (1954) đã định hình việc Nhật Bản hội nhập vào khối tư bản và triển khai chính sách "ngoại giao kinh tế" sang Đông Nam Á.
  • Quan hệ Nhật Bản - VNCH (1955 - 1965): Nhật Bản công nhận chính quyền Ngô Đình Diệm, ký kết Hiệp định Bồi thường Chiến tranh (trọng tâm là dự án Nhà máy Thủy điện Đa Nhim) và thực hiện các khoản viện trợ, cho vay. Thương mại song phương tăng trưởng mạnh qua nguồn tài trợ mua sắm của cơ quan AID/ICA Mỹ. Hợp tác y tế, giáo dục và giao lưu văn hóa được thiết lập ở quy mô nhà nước.
  • Quan hệ Nhật Bản - VNDCCH (1954 - 1965): Trong điều kiện không có quan hệ ngoại giao, các đảng cánh tả (Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội) và Tổng Công đoàn Nhật Bản (Sōhyō) tích cực phản đối việc bồi thường đơn phương cho VNCH, ủng hộ VNDCCH và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN). Hai bên phối hợp thực hiện việc hồi hương người Nhật "Việt Nam mới" và thành lập Hội Mậu dịch Nhật - Việt (1955) để tiến hành trao đổi thương mại tư nhân (than Hòn Gai đổi lấy máy móc, phân bón, vải sợi).

Chương 3: Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam (1965 - 1975)

Chương 3 làm rõ giai đoạn Chiến tranh Việt Nam leo thang và những chuyển biến ngoại giao:

  • Chiến tranh leo thang và phản ứng của chính phủ Nhật Bản: Sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ (1964), Mỹ mở rộng ném bom miền Bắc và đưa quân ồ ạt vào miền Nam. Chính phủ Nhật Bản (nội các Sato Eisaku) ủng hộ chính sách của Mỹ, cho phép quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật Bản và đảo Okinawa làm hậu cần, bảo dưỡng khí tài và y tế.
  • Quan hệ Nhật Bản - VNCH (1965 - 1975): Nhật Bản tăng cường viện trợ không hoàn lại, mở rộng các khoản cho vay phát triển kinh tế, thúc đẩy các dự án đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Nhật tại Sài Gòn và phát triển các chương trình hợp tác kỹ thuật, an sinh xã hội, giáo dục.
  • Quan hệ Nhật Bản - VNDCCH (1965 - 1975): Phong trào phản đối chiến tranh, đòi hòa bình cho Việt Nam phát triển sâu rộng tại Nhật Bản với nòng cốt là phong trào thị dân Beheiren, các nghiệp đoàn và giới trí thức. Quan hệ thương mại tư nhân hai chiều tiếp tục vượt qua các trở ngại cấm vận và chiến sự.
  • Thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật Bản - VNDCCH: Sau các diễn biến quốc tế lớn ("Cú sốc Nixon", việc Mỹ - Trung tiếp xúc năm 1972) và việc ký kết Hiệp định Paris (1/1973), chính phủ Nhật Bản điều chỉnh chính sách đối ngoại. Thông qua các nỗ lực đàm phán ngoại giao (vai trò của nhà ngoại giao Miyake Wasuke và các cuộc tiếp xúc tại Paris), hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/9/1973, mở ra giai đoạn trao đổi đoàn ngoại giao và chuẩn bị mở đại sứ quán.

Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ Nhật Bản - Việt Nam (1954 - 1975)

Chương 4 đúc kết các nhận định khoa học về bản chất của mối quan hệ song phương:

  • Đặc trưng cơ bản: Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 mang tính "lưỡng diện" và phức hợp: tồn tại song song quan hệ ngoại giao - kinh tế cấp nhà nước với miền Nam (VNCH) và quan hệ nhân dân - mậu dịch tư nhân với miền Bắc (VNDCCH). Quan hệ này bị chi phối trực tiếp bởi cấu trúc Chiến tranh Lạnh và liên minh an ninh Nhật - Mỹ, đồng thời phản ánh tính thực dụng của chính sách "ngoại giao kinh tế" Nhật Bản nhằm tìm kiếm thị trường và nguồn tài nguyên phục vụ phát triển quốc gia.
  • Bài học kinh nghiệm: Đúc kết các bài học về xử lý hài hòa lợi ích quốc gia trong môi trường cạnh tranh nước lớn; phát huy vai trò cầu nối của ngoại giao nhân dân trong bối cảnh khác biệt ý thức hệ; và vận dụng linh hoạt các cơ chế hợp tác kinh tế để đặt nền tảng cho quan hệ chính trị - ngoại giao lâu dài.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học:

  • Tái hiện một cách hệ thống, toàn diện và khách quan toàn bộ bức tranh quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975, xử lý đồng thời cả hai tuyến quan hệ song song với VNCH và VNDCCH.
  • Làm rõ cơ chế vận hành của kênh ngoại giao nhân dân và quan hệ thương mại tư nhân Nhật Bản - VNDCCH trước năm 1973, giải quyết thỏa đáng mảng lịch sử trước đây ít được nghiên cứu do thiếu hụt tư liệu.
  • Khai thác và công bố khối lượng lớn sử liệu gốc tiếng Nhật (Sách Xanh Ngoại giao, văn bản lưu trữ Quốc hội Nhật Bản, tài liệu nội bộ các chính đảng và tổ chức công đoàn Nhật Bản) và tài liệu lưu trữ tiếng Việt tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và III.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy các chuyên ngành Lịch sử Thế giới, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Lịch sử Ngoại giao Việt Nam và Nhật Bản học tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
  • Cung cấp các luận cứ lịch sử và bài học kinh nghiệm thực tiễn giúp các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách đối ngoại hiểu sâu sắc hơn về nguồn gốc, đặc điểm và diễn biến quan hệ song phương, phục vụ việc củng cố quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu tiếp cận tập trung chủ yếu từ phía Nhật Bản và các phông lưu trữ quốc gia tại Việt Nam, luận án nhìn nhận mối quan hệ chủ yếu từ góc độ chính sách và hành vi đối ngoại của Nhật Bản đối với Việt Nam. Một số hồ sơ lưu trữ chi tiết về hoạt động ngoại giao trung gian của các quốc gia liên quan khác (như Pháp, các nước trung lập) trong tiến trình thương lượng bồi thường và tiếp xúc ngoại giao chưa được bao quát toàn bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Việt Nam thống nhất sau năm 1975; khai thác thêm các kho tư liệu giải mật từ các cơ quan lưu trữ Mỹ và châu Âu để làm sâu sắc hơn cơ chế phối hợp đa phương trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam thời hậu chiến.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các khối ngành Lịch sử (Lịch sử Thế giới, Lịch sử Việt Nam), Quan hệ Quốc tế, Đông phương học và Nhật Bản học cần tài liệu chuyên khảo về giai đoạn Chiến tranh Lạnh và quan hệ quốc tế ở Đông Á.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Dùng để đối chiếu các số liệu thống kê về thương mại, viện trợ, bồi thường chiến tranh và các trích dẫn văn kiện chính thức trong giảng dạy lịch sử ngoại giao.
  • Chuyên viên và nhà hoạch định chính sách đối ngoại: Cung cấp dữ liệu lịch sử về quá trình chuyển dịch chính sách, bài học đàm phán và kinh nghiệm phát triển ngoại giao đa tầng (kết hợp nhà nước và nhân dân).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những nguồn tư liệu gốc chính nào từ phía Nhật Bản?
Luận án sử dụng các nguồn tư liệu gốc gồm: Sách Xanh Ngoại giao (Gaiko Seisho) của Bộ Ngoại giao Nhật Bản từ năm 1957 đến 1975; bộ Văn kiện - Niên biểu ngoại giao chủ yếu của Nhật Bản (1941 - 1993) do Viện Nghiên cứu Hòa bình Kajima biên soạn; Tuyển tập tư liệu quan hệ Nhật - Mỹ 1945 - 1997; biên bản nghị sự của Quốc hội Nhật Bản; tài liệu của các chính đảng (Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội) và Tổng Công đoàn Nhật Bản (Sōhyō); cùng các bộ sử liệu của Hội Mậu dịch Nhật - Việt và Hội Hữu nghị Nhật - Việt.

2. Dự án kinh tế nào là trọng tâm trong Hiệp định Bồi thường Chiến tranh giữa Nhật Bản và VNCH?
Dự án trọng tâm chiếm phần lớn nguồn kinh phí bồi thường chiến tranh của Nhật Bản cho chính quyền Sài Gòn là việc xây dựng Nhà máy Thủy điện Đa Nhim, bao gồm các hạng mục xây dựng đập nước, nhà máy phát điện, lắp đặt đường dây truyền tải điện về Sài Gòn và chuyển giao thiết bị kỹ thuật liên quan (được thống kê chi tiết tại Bảng 2.2 của luận án).

3. Hoạt động trao đổi giữa Nhật Bản và VNDCCH giai đoạn 1954 - 1973 được thực hiện qua hình thức nào?
Trong giai đoạn chưa có quan hệ ngoại giao chính thức, quan hệ giữa hai bên được duy trì thông qua kênh ngoại giao nhân dân của các chính đảng cánh tả (ĐCS Nhật Bản, ĐXH Nhật Bản), các tổ chức đoàn thể (Ủy ban Hòa bình Nhật Bản, Tổng Công đoàn Sōhyō), Hội Hữu nghị Nhật - Việt; giải quyết việc hồi hương người Nhật "Việt Nam mới"; và kênh mậu dịch tư nhân thông qua Hội Mậu dịch Nhật - Việt thành lập năm 1955 (trao đổi than Hòn Gai lấy vật tư, thiết bị, phân bón).

4. Yếu tố nào thúc đẩy Nhật Bản và VNDCCH đàm phán và thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 9/1973?
Tiến trình thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức ngày 21/9/1973 được thúc đẩy bởi sự biến chuyển của bối cảnh quốc tế sau "Cú sốc Nixon" (1971), việc bình thường hóa quan hệ Nhật - Trung (1972), việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam (1/1973), cùng nỗ lực tiếp xúc ngoại giao song phương tại Paris mà đại diện phía Nhật Bản là nhà ngoại giao Miyake Wasuke.


Kết luận

Luận án "Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam (1954 - 1975)" của nghiên cứu sinh Nguyễn Vũ Kỳ là công trình khoa học chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lịch sử Thế giới, phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống mối quan hệ phức hợp giữa Nhật Bản với hai miền Nam - Bắc Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ gốc phong phú từ cả Nhật Bản và Việt Nam, tác giả đã làm sáng tỏ cấu trúc quan hệ song song gồm ngoại giao chính thức với chính quyền Sài Gòn và quan hệ nhân dân, mậu dịch tư nhân với chính quyền Hà Nội. Luận án phân tích sâu sắc các nhân tố quốc tế, sự chi phối của liên minh Nhật - Mỹ và lợi ích kinh tế trong chính sách đối ngoại của Tokyo, từ đó chỉ ra những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị đối với việc phát triển quan hệ hợp tác song phương hiện nay. Công trình đóng góp thiết thực cho việc lấp đầy các khoảng trống học thuật trong lịch sử ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản thời hiện đại.