CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Nghiên cứu ở Việt Nam Nhóm thứ nhất: các công trình nghiên cứu chung về quan hệ Nhật - Việt Tại Việt Nam, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về quan hệ Nhật - Việt trong các thời kỳ trung đại và cận đại, hay giai đoạn kể từ sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1973. Trong số này có thể phân thành 3 nhóm nhỏ như sau: Một là, các công trình khảo cứu chuyên sâu về quan hệ Nhật - Việt xoay quanh một vấn đề hay giai đoạn lịch sử nhất định.
Nổi bật trong số đó là chuỗi các công trình của Nguyễn Tiến Lực đã làm sáng tỏ cặn kẽ quan hệ Nhật Bản - Việt Nam thời kỳ cận đại, có thể kể đến là: Minh Trị Duy tân và Việt Nam (Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2010), Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thời cận đại (Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2013)… Hai là, các công trình tập hợp, tuyển chọn các bài nghiên cứu xoay quanh các vấn đề trong quan hệ Nhật - Việt, thường được xuất bản vào các dịp kỉ niệm thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật Bản - Việt Nam hoặc là ấn phẩm xuất bản của các hội thảo khoa học về quan hệ Nhật - Việt, có thể kể ra đây một số các công trình trong số đó như: Dương Phú Hiệp, Ngô Xuân Bình, Trần Anh Phương (Đồng chủ biên), 25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 1973 - 1998 (Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999); Ngô Xuân Bình, Trần Quang Minh (Chủ biên): Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản – Quá khứ, hiện tại và tương lai (Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005); Nguyễn Tiến Lực (Chủ biên): Nhật Bản và các nước Tiểu vùng sông Mekong: Mối quan hệ lịch sử (Nxb. Giáo dục Việt nam, Hà Nội, 2011) hay Nguyễn Tiến Lực (Chủ biên): 40 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Thành quả và triển vọng (Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2014), Phạm Thị Thu Giang (Chủ biên): Lịch sử giao lưu Việt Nam - Nhật Bản (Nxb. Thế giới, 2014); Đại học Đà Nẵng, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, Trung tâm xúc tiến giao lưu Việt - Nhật tại Đà Nẵng: Lịch sử và triển vọng mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Nhìn từ miền Trung Việt Nam (Nxb.
Thông tin và truyền thông, 2015). Các công trình này tập hợp nhiều bài viết đề cập đến lịch sử quan hệ Nhật - Việt, quan hệ thương mại - đầu tư, đối ngoại, văn hóa - giáo dục của Nhật Bản với Việt Nam… 13 Ba là, các công trình nghiên cứu có đề cập đến quan hệ Nhật - Việt thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhật Bản và các chủ thể khác, các khu vực mà Việt Nam là một bộ phận trong đó. Tiêu biểu như đầu thập niên 1990 có cuốn Quan hệ của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai 1945-1975 (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, 1992) của Dương Lan Hải, đề cập đến quan hệ Nhật Bản với các nước Đông Nam Á, trong đó có đề cập một cách sơ lược quan hệ giữa Nhật Bản với VNCH; gần đây có công trình Quan hệ giữa Nhật Bản và các nước tiểu vùng sông Mekong từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay (Nxb. Đại học Quốc gia TP.
HCM, 2017) của Huỳnh Phương Anh đã làm sáng tỏ quá trình phát triển quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Tiểu vùng sông Mekong kể từ sau thập niên 1990, cũng như xác định vị thế của Việt Nam trong mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản và Việt Nam - ASEAN với Nhật Bản. Nhóm thứ hai: các công trình nghiên cứu về quan hệ Nhật Bản - VNCH Có thể nói, công trình Viện trợ của Nhật cho miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (Japanese Aids to the South of Vietnam during the period 1954 - 1975) do Trung tâm nghiên cứu sử học (Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, 1998) biên soạn, là công trình nghiên cứu về quan hệ Nhật Bản - Việt Nam nói chung và mối quan hệ Nhật Bản - VNCH nói riêng ra đời khá sớm trong những năm đầu sau Đổi mới. Công trình tập hợp nhiều bài viết về mối quan hệ Nhật Bản - VNCH, trong đó ngoài việc phân tích chính sách của Nhật Bản đối với miền Nam Việt Nam (1954 - 1975), việc bồi thường chiến tranh, hoạt động thương mại VNCH - Nhật Bản, so sánh quan hệ Nhật - Việt trong và sau CTTG II; thì các bài viết chủ yếu luận bàn xoay quanh hoạt động viện trợ của Nhật Bản như: việc tiếp nhận và sử dụng viện trợ, đặc điểm và vai trò nguồn viện trợ, phân tích nguồn viện trợ của Nhật Bản trong tương quan viện trợ nước ngoài cho VNCH. Liên quan chủ đề bồi thường chiến tranh còn có bài viết “Nhận thức của chính quyền Sài Gòn đối với vấn đề bồi thường chiến tranh của Nhật Bản (1955 - 1959)” của Tanaka Takeo in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc tế Việt Nam - Nhật Bản – Mối quan hệ trong xu thế hội nhập mới (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG-HCM, 2007), làm sáng tỏ tiến trình thương thuyết để đi đến ký kết hiệp định bồi thường chiến tranh của Nhật Bản cho chính quyền VNCH.
Điểm thú vị là bài viết tập trung phân tích vấn đề từ quan điểm của chính quyền Sài Gòn nhưng được nhìn nhận dưới lăng kính của học giả Nhật Bản. 14 Phạm Anh với Đỗ Thanh Bình và Văn Ngọc Thành công bố một số bài viết liên quan đến những vấn đề khác nhau trong quan hệ giữa Nhật Bản với VNCH như: “Quan hệ về văn hóa giữa Nhật Bản với Nam Việt Nam (1954 - 1975)” (Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3, 2008), “Quan hệ giữa Nhật Bản và chính quyền VNCH từ 1955 đến 1965” (Nghiên cứu lịch sử, số 5, 2009), “Nhật Bản trong chính sách đối ngoại của chính quyền Sài Gòn từ 1955 đến 1965”, in trong Nhật Bản và các nước tiểu vùng Mekong – Mối quan hệ lịch sử (Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2011), “Đầu tư của Nhật Bản ở miền Nam Việt Nam (1955 - 1975)”, in trong 40 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: Thành quả và triển vọng (Nxb. Tổng hợp TP.
Hồ Chí Minh, 2014). Liên quan đến chính sách ngoại giao của VNCH, trong bài viết “Hoạt động ngoại giao của chế độ “Việt Nam Cộng hòa” thời kỳ Ngô Đình Diệm (1955 - 1963)” (Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Xã hội & Nhân văn, tập 18, số X4-2015), Trần Nam Tiến trình bày cụ thể chính sách ngoại giao và quá trình thực thi của chính quyền miền Nam Việt Nam thời kỳ Ngô Đình Diệm, trong đó có đề cập chính quyền Sài Gòn chú trọng quan hệ ngoại giao với Nhật Bản. Đáng lưu ý gần đây có luận án tiến sĩ Quan hệ Nhật Bản với chính quyền VNCH từ năm 1954 đến năm 1975 (Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2016) của Lê Thị Bình. Nội dung chính của luận án khai thác các khía cạnh khác nhau trong mối quan hệ giữa Nhật Bản và chính quyền Sài Gòn trên tất cả các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa - xã hội.
trong bối cảnh chủ nghĩa bá quyền toàn cầu Mỹ sau CTTG II và đưa ra một số nhận xét. Mới đây nhất, trong cuốn Quan hệ kinh tế, văn hóa giữa Nhật Bản và chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975) (Nxb. Thế giới, 2020), Phạm Ngọc Anh tập trung phân tích thực trạng quan hệ kinh tế, văn hóa giữa Nhật Bản và VNCH giai đoạn 1955 - 1975, cũng như đánh giá những hệ quả, tác động ở cả mặt tích cực và hạn chế của mối quan hệ đó đối với cả hai phía. Nhóm thứ ba: các công trình nghiên cứu về mối quan hệ Nhật Bản - VNDCCH Dù trên thực tế các hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Nhật Bản - VNDCCH vẫn diễn ra ở cấp độ đoàn thể nhân dân trong bối cảnh không có quan hệ ngoại giao chính thức, nhưng so với các nghiên cứu về mối quan hệ Nhật Bản - VNCH thì các vấn đề xoay quanh mối quan hệ Nhật Bản - VNDCCH còn ít được nghiên cứu và có phần phiến diện.
15 Có thể kể ra một số ít các bài viết có liên quan vấn đề này như: “Nền bang giao Việt - Nhật” của Phạm Lương Giang (Tạp chí Bách khoa thời đại, số 11, 1967), “30 năm Hội hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản” của Hoàng Nhật (Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 4, 1995), “Hoạt động trong suốt 58 năm qua của Hội hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam” của Furuta Motoo in trong Lịch sử giao lưu Việt Nam - Nhật Bản (Phạm Thị Thu Giang chủ biên, Nxb. Các bài viết chủ yếu xoay quanh hoạt động của Hội hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam và những đóng góp của hội đối với quan hệ giữa hai nước. Một vấn đề có xu hướng hay được nhắc tới khi đề cập đến sự ủng hộ của nhân dân Nhật Bản với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là Phong trào thị dân Nhật Bản đòi hòa bình cho Việt Nam (Beheiren). Vấn đề này được giới thiệu thường xuyên qua hoạt động trưng bày hình ảnh cũng như bài viết giới thiệu của Bảo tàng Chứng tích chiến tranh1.
Gần đây, cuốn Phong trào hòa bình Nhật Bản ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh (1954-1975) và tình hữu nghị Việt - Nhật tập hợp nhiều hình ảnh về phong trào hòa bình phản đối Chiến tranh Việt Nam tại Nhật Bản, trong đó có các hình ảnh về phong trào Beheiren, đã được xuất bản năm 2016. Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài các hoạt động triển lãm và bài viết giới thiệu của Bảo tàng Chứng tích chiến tranh thì cũng chưa có một nghiên cứu nào tại Việt Nam về vấn đề Beheiren một cách cụ thể và toàn diện. Nhóm thứ tư: các công trình đề cập các vấn đề cụ thể của mối quan hệ Một vấn đề thuộc nội dung mảng hoạt động giao lưu nhân dân Nhật Bản - VNDCCH thời kỳ này là việc tổ chức hồi hương cho những người Nhật “Việt Nam mới” và hoạt động của họ sau khi về nước trong việc thúc đẩy giao lưu văn hóa, giao lưu con người với miền Bắc Việt Nam. Các vấn đề xoay quanh người Nhật “Việt Nam mới” là mảng đề tài khá mới mẻ trong nghiên cứu quan hệ Nhật - Việt tại Việt Nam.