Chương 1. Những nhân tố tác động tới quan hệ Campuchia - Việt Nam (1993 - 2010) Chương 2. Quan hệ Campuchia - Việt Nam trên các lĩnh vực (1993 - 2010) Chương 3. Nhận xét, đánh giá về quan hệ Campuchia - Việt Nam (1993 - 2010) 15 luan an Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ CAMPUCHIA - VIỆT NAM (1993 - 2010) 1.
Nhân tố lịch sử, văn hóa và địa chiến lược 1. Khái quát quan hệ Campuchia - Việt Nam trước năm 1993 Quan hệ Campuchia - Việt Nam trước năm 1975 Từ lâu trong lịch sử, Campuchia đã có quan hệ với Việt Nam. Từ đầu thiên niên kỷ thứ II trở đi, khuynh hướng tăng cường giao lưu với Đại Việt, Lạn Xạng và các nước láng giềng Đông Nam Á khác ngày càng rõ nét. Trong những thế kỷ tiếp theo, nhân dân Campuchia và Việt Nam cùng các dân tộc anh em trong khu vực đã đoàn kết với nhau chống lại những cuộc xâm lăng của phong kiến phương Bắc.
Đặc biệt, chiến thắng đế chế Mông Nguyên (Trung Quốc) của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XIII không chỉ là sự kiện mang tầm vóc Á - Âu, mà còn thể hiện sức mạnh đoàn kết đấu tranh của các dân tộc Đông Nam Á. Vào thời điểm chế độ phong kiến ở Campuchia cũng như Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng, suy yếu, giai cấp phong kiến từ chỗ chống lại chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược cuối cùng chấp nhận sự bảo hộ của ngoại bang và bước vào con đường thỏa hiệp, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, tạo điều kiện cho thực dân Pháp đặt ách cai trị lên toàn cõi Đông Dương. Năm 1887, thực dân Pháp lập ra “Liên bang Đông Dương” (Union Indochinoise) gồm hai nước Campuchia và Việt Nam, năm 1893 bao gồm cả Lào. Kết quả là thực dân Pháp đã khai sinh ra một thực thể chính trị mới đầu tiên mang tên “Indochine française” (Đông Dương thuộc Pháp).
Đứng trước hoàn cảnh đó, nhân dân hai nước Campuchia và Việt Nam đã kề vai sát cánh bên nhau cùng chống lại kẻ thù chung. Tiêu biểu cho mối quan hệ này là liên minh chiến đấu của nghĩa quân Achar Soa (Campuchia) với nghĩa quân Đề đốc Huân những năm 1864 - 1866; liên minh chiến đấu Trương Quyền - Pukumbor (1866 - 1867) trên địa bàn biên giới Campuchia - Việt Nam, là sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam đối với cuộc khởi nghĩa của Hoàng thân Shivotha (1855 - 1891), ngược lại trong một số cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam có sự tham gia đông đảo của nhân dân Khmer. Những hành động lịch sử trên đây mở đầu cho quá trình liên minh, đoàn kết chiến đấu chặt chẽ và bền bỉ giữa hai dân tộc Campuchia và Việt Nam. 16 luan an Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhân dân Campuchia và Việt Nam đã đoàn kết trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và thống trị.
Tiêu biểu cho sự liên minh này là cuộc khởi nghĩa của N’Trang Lơng (1909 - 1933) ở cao nguyên Tây Nguyên Việt Nam đã có sự tham gia của các tộc người vùng Đông Bắc Campuchia. Cuộc khởi nghĩa này có ý nghĩa quan trọng không chỉ “đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh chung giành độc lập, đưa lại chiến thắng vẻ vang trong cách mạng tháng Tám 1945 và 30 năm gìn giữ độc lập thống nhất tổ quốc, cuộc khởi nghĩa Trang Lơng còn là một biểu tượng của tinh thần đoàn kết chiến đấu (dân tộc và quốc tế)” [41;63]. Tháng 11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, thực dân Pháp âm mưu đưa lính từ biên giới Campuchia - Thái Lan về đàn áp nhân dân Việt Nam. Công nhân lái xe ở Phnom Penh đã tổ chức bãi công, không chịu chở binh lính về đàn áp những người anh em Việt Nam của mình [59;40].
Hội nghị Trung ương VIII của Đảng Cộng sản Đông Dương (5/1941) còn giao nhiệm vụ cho Đảng bộ Nam Kỳ (Việt Nam) phải giúp đỡ việc xây dựng cơ sở Đảng tại Campuchia, cách mạng Việt Nam có nghĩa vụ giúp đỡ cách mạng Campuchia, ngược lại cách mạng Campuchia phát triển sẽ là sự hỗ trợ to lớn và trực tiếp đối với cách mạng Việt Nam. Đây là một biểu hiện mới của tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và minh chứng sâu sắc rằng “Chủ nghĩa yêu nước triệt để không thể nào tách rời khỏi Chủ nghĩa quốc tế vô sản” [74;125], “giúp bạn là tự giúp mình” của nhân dân Campuchia và Việt Nam. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Campuchia và Việt Nam đã có sự đoàn kết và liên minh chiến đấu. Đáp ứng yêu cầu của cách mạng, quân và dân thuộc các tỉnh giáp biên hai nước đã liên hệ, phối hợp và giúp đỡ nhau đẩy mạnh đấu tranh.
Vào đầu năm 1949, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định “mở rộng Mặt trận Miên - Lào”, trong đó yêu cầu mở rộng Mặt trận Kháng chiến Campuchia và Lào, củng cố lực lượng Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại hai nước này, tăng cường thêm cán bộ, xây dựng và mở rộng căn cứ tại Campuchia… Trong những năm 50 của thế kỷ XX, được sự giúp đỡ của Việt Nam, nhân dân Campuchia đã không ngừng mở rộng phong trào kháng chiến chống Pháp và tiến hành Hội nghị toàn quốc để thành lập Ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc gọi là “Samakhum Khmer Issarak” do Sơn Ngọc Minh làm Chủ tịch 17 luan an (19/4/1950). Ông Nguyễn Thanh Sơn nguyên Xứ ủy Nam Kỳ (1939 - 1940) và Trưởng ban quân sự kiêm ngoại giao thuộc Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (1947) được Trung ương cử sang Campuchia giúp xây dựng lực lượng kháng chiến Issarak Khmer [114;2080]. Có thể nói, sự phối hợp, giúp đỡ, liên minh đoàn kết chiến đấu giữa Campuchia và Việt Nam (cùng với Lào) đã góp phần đưa lại những thắng lợi căn bản cho sự nghiệp cách mạng của hai nước, tạo tiền đề, điều kiện quan trọng buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký các hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), khi đế quốc Mỹ dùng vũ trang xâm lược hòng đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên bán đảo Đông Dương thì “nhân dân Campuchia lại một lần nữa kề vai, sát cánh với nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào, được sự ủng hộ của các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, đã nhất tề đứng lên kháng chiến” [128] nhằm mục đích đánh đuổi đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc.
Giai đoạn 1954 - 1970, Campuchia dưới sự dẫn dắt của cựu Quốc vương N.Shihanouk đã thực hiện đường lối hòa bình, trung lập và thể hiện quan điểm ngoại giao thân thiện trong quan hệ với cách mạng Việt Nam, “có thái độ tích cực trong sự ủng hộ cách mạng Việt Nam, lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên bố nhận đại diện của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1966), công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” [166; 264]. Có thể thấy rằng, trong thời gian này, Campuchia đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho quân giải phóng Việt Nam, nhất là cho phép bộ đội giải phóng mượn đường qua đất Campuchia để tiến công vào sào huyệt của chế độ Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngược lại, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ủng hộ đường lối phát triển trung lập, độc lập và hòa bình của Campuchia. Có thể nói, ở thời điểm này, nhân dân Campuchia và Việt Nam đều có chung một kẻ thù là đế quốc Mỹ đang tìm mọi cách triệt phá chế độ trung lập của Campuchia, cũng như đang trực tiếp xâm lược Việt Nam.
Tuy nhiên, cần phải nhận thấy rằng, do điều kiện của bối cảnh bên trong và ngoài nước, tổ chức Cộng đồng Xã hội Bình dân (Sangkum Reastr Nlyum, thành lập năm 1955) do Cựu vương Shihanouk lãnh đạo vẫn chưa hoàn toàn đoạn tuyệt với đế quốc Mỹ và chưa thực sự công khai chống Mỹ, tiếp tục “nhận viện 18 luan an trợ Mỹ và không kiên quyết trấn áp bọn thân Mỹ” [166; 265]. Điều này ít nhiều đã ảnh hưởng tiêu cực tới công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của nhân dân Việt Nam, đồng thời dẫn đến nguy cơ đổ vỡ nhanh chóng nền hòa bình, độc lập và trung lập của Campuchia. Giai đoạn 1970 - 1975, tình bạn chiến đấu sắt son của hai dân tộc càng được bồi đắp và trở nên gắn bó hơn, chính điều đó đã tạo nên những chiến thắng vang dội, với hàng loạt chiến dịch giữa quân đội hai nước như “Chen La I”, “Chen La II”, “Lam Sơn 719”… góp phần đập tan nhiều chiến lược quân sự quy mô của Mỹ như “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Khmer hóa chiến tranh” nói riêng và “Đông Dương hóa chiến tranh” nói chung. Trên đà thắng lợi, với sự giúp đỡ hết mình của Việt Nam, nhân dân Campuchia đã tấn công quyết liệt vào chế độ Lon Nol thân Mỹ, buộc đế quốc Mỹ phải rút quân khỏi Campuchia, giành thắng lợi quyết định cuối cùng vào năm 1975.
Thắng lợi này, ngược lại đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc. Có thể khẳng định, tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa Campuchia và Việt Nam trước năm 1975, đã tạo điều kiện cần thiết cho hai nước thoát khỏi những âm mưa chia cắt và ý định chiếm đóng lâu dài của thực dân và đế quốc. Mặc dù vẫn còn những trở ngại xuất phát từ điều kiện chủ quan và khách quan, nhưng quan hệ Campuchia và Việt Nam ở thời kỳ này nhìn chung tốt đẹp. Đây chính là nền tảng quan trọng góp phần làm nên thắng lợi đối với sự nghiệp cách mạng mỗi nước cũng như của nhân dân trên toàn bán đảo Đông Dương.
Hơn nữa, sự gắn bó tích cực về mặt lịch sử giữa hai nước cũng được xem như là một tiền đề không thể thiếu để Campuchia và Việt Nam tiếp tục tăng cường hơn nữa mối quan hệ trong giai đoạn tiếp theo. Quan hệ Campuchia - Việt Nam (1975 - 1993) Mùa xuân 1975, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, từ thời điểm này trở đi, nhân dân Việt Nam được hưởng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH).