Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Sự chuyển biến của quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1885" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Hạnh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2014), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Vinh, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (Mã số: 62.13).

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, quan hệ ngoại giao với Trung Quốc luôn giữ vị trí trọng yếu, phản ánh đường lối đối ngoại mang tính bắt buộc do hoàn cảnh lịch sử - địa lý đặc thù quy định. Giai đoạn 1802 - 1885 dưới triều Nguyễn là thời kỳ bang giao hòa bình nhưng chứa đựng nhiều diễn biến phức tạp, từ tranh chấp biên giới đất liền, biển đảo cho đến các xung đột mậu dịch. Vấn đề nhận thức thực chất mối quan hệ này (độc lập hay phụ thuộc) và diện mạo kinh tế thương mại thời Nguyễn (có phải là bức tranh u ám do chính sách "ức thương", "bế quan tỏa cảng" hay không) còn tồn tại nhiều thiên kiến học thuật. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống và khách quan về sự chuyển biến của mối quan hệ ngoại giao Việt - Trung giai đoạn này là yêu cầu cấp thiết về mặt khoa học lịch sử và thực tiễn đối ngoại.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Làm sáng tỏ sự chuyển biến của mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1885, rút ra xu hướng, đặc điểm và thực chất của sự chuyển biến ấy trong quan hệ giữa hai nước thời kỳ này.
  2. Hiểu rõ đặc điểm, thực chất của mối quan hệ ngoại giao Việt - Trung giai đoạn 1802 - 1885 nhằm góp phần cung cấp luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước Việt Nam hoạch định chính sách đối ngoại đúng đắn, phù hợp với bối cảnh khu vực và quốc tế, bảo đảm an ninh quốc phòng và phát triển đất nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:

  1. Nghiên cứu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử đến đường lối, chính sách đối ngoại của triều Nguyễn đối với triều Thanh và ngược lại.
  2. Tái hiện khách quan, chân thực mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc trên các phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa thời kỳ 1802 - 1885.
  3. Tập trung làm rõ những biến chuyển, thay đổi của mối quan hệ ngoại giao Việt – Trung trước và sau năm 1858 trên các phương diện cơ bản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những biểu hiện của sự chuyển biến trong quan hệ ngoại giao Việt – Trung từ năm 1802 đến năm 1885 trên ba phương diện cơ bản: Chính trị, Kinh tế và Văn hóa.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 (khi vương triều Nguyễn được thiết lập) đến năm 1885 (thời điểm ký kết Hòa ước Thiên Tân giữa Pháp và triều Mãn Thanh, chấm dứt quan hệ thượng quốc - chư hầu).
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ quốc gia Việt Nam thời Nguyễn và Trung Quốc thời nhà Thanh.
  • Phạm vi nội dung: Đặt trong bối cảnh thế giới và khu vực thế kỷ XIX; khảo sát quan hệ hai chiều nhưng nghiêng nhiều hơn về chiều Việt Nam với Trung Quốc do điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Các công trình nghiên cứu trong nước trước thập niên 90 của thế kỷ XX:

  • Trần Trọng Kim (1921, Việt Nam sử lược): Khái quát lịch sử triều Nguyễn qua các triều vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, đề cập diện mạo ngoại giao sơ lược.
  • Sông Bằng (1943, Việt Hoa thông sứ sử lược): Khảo cứu hành vi, tiết tháo của các sứ thần tuế cống và mối liên hệ văn hóa giữa trí thức hai nước.
  • Đào Duy Anh (1955, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX): Bàn về chính sách đối ngoại triều Nguyễn nhưng tập trung vào biên giới phía Tây, Nam và quan hệ với Pháp.
  • Thành Thế Vỹ (1961, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII – XVIII đầu thế kỷ XIX): Khảo sát hàng hóa, thể lệ, bộ máy, thuế khóa và phương tiện giao thương nhưng chưa tổng hợp thành hệ thống quan hệ mậu dịch Việt - Trung.
  • Đặng Thai Mai (1961, Mối quan hệ lâu đời và mật thiết giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc trên Tạp chí Văn học số 7): Phân chia 4 thời kỳ bang giao và khẳng định vai trò đối thoại văn học trong ngoại giao.
  • Văn Phong (1979, Quan hệ Trung - Việt và Việt - Trung trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4): Khái quát quan hệ từ thời Tần đến Mãn Thanh, chỉ ra sự phản kháng của Việt Nam trước quy luật áp đặt đẳng cấp nước lớn.
  • Trương Thị Yến (1981, Nhà Nguyễn với các thương nhân người Hoa thế kỷ XIX trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3): Phân tích thái độ vừa ưu ái vừa kiềm chế của triều Nguyễn đối với Hoa thương.
  • Nguyễn Đổng Chi (1981, Lý Văn Phức: Cây bút luận chiến ngoại giao cứng cỏi): Khảo sát một số trước tác văn thơ bang giao của Lý Văn Phức.
  • Văn Tạo (1985, Một trăm năm phản bội Việt Nam từ Hiệp ước Pháp - Hoa (1885) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3) và Trịnh Nhu (1989, Nhà Thanh đối với Việt Nam qua sự phản kháng Hiệp ước năm 1874 trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 3, 4): Phân tích tham vọng tôn chủ của nhà Thanh và tác động của các hiệp ước bất bình đẳng.

Các công trình nghiên cứu trong nước từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến năm 2014:

  • Trịnh Nhu (1991, Luận án Tiến sĩ Quan hệ Trung – Pháp về vấn đề Việt Nam cuối thế kỷ XIX; 1991, bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1): Luận giải nguồn gốc chiến tranh Trung - Pháp (1883 - 1885) và chính sách thỏa hiệp của nhà Thanh làm tổn hại độc lập của Việt Nam.
  • Trần Độ (1995, Quân Thanh đối với hoạt động xâm lược của Pháp ở Bắc Kỳ trong những năm 1882 - 1883 trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 3): Phân tích thái độ án binh bất động của quân Thanh tại Bắc Kỳ.
  • Tạ Ngọc Liễn (1995, Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI): Cung cấp cơ sở lý luận về cấu trúc sách phong, triều cống và lễ sính.
  • Nguyễn Lương Bích (1996, Lịch sử ngoại giao các thời trước): Điểm qua việc cử sứ bộ và giải quyết xung đột biên giới thời Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị.
  • Đỗ Bang (1997, Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn): Phân tích chính sách ưu đãi Hoa thương và tần suất tàu buôn triều Nguyễn sang Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Nguyễn Minh Hằng chủ biên (2001, Buôn bán qua biên giới Việt – Trung, Lịch sử - Hiện trạng – Triển vọng): Khảo cứu bộ máy quản lý, mậu dịch biên giới thế kỷ XIX và chỉ ra tính phụ thuộc của kinh tế vào bối cảnh chính trị.
  • Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính (2001) và Trung tâm Văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây (2001): Nghiên cứu văn thơ đi sứ của Nguyễn Du và Nguyễn Tư Giản.
  • Nguyễn Nhã (2002, Luận án Tiến sĩ Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa): Cung cấp tư liệu về hoạt động thực thi chủ quyền biển đảo thời Nguyễn.
  • Trần Đức Anh Sơn (2004, Huế - triều Nguyễn một cái nhìn; 2007, Hoạt động thương mại của các sứ bộ Việt Nam ở Trung Hoa thời Thanh): Thống kê các chuyến đi sứ và khảo sát thương mại triều cống trước năm 1858.
  • Nguyễn Bá Thành (2004), Đàm Chi Từ (2004), Phạm Xuân Nam (2008), Vũ Thị Phương Hậu (2008): Phân tích giao lưu văn học, bản sắc văn hóa và nghệ thuật đối thoại văn hóa trong bang giao.
  • Nguyễn Thế Long (2005, Bang giao Đại Việt triều Nguyễn): Tổng hợp tư liệu đi sứ và tiếp sứ thời Nguyễn.
  • Vũ Dương Ninh chủ biên và Nguyễn Minh Tường (2010, Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc): Khái quát tranh chấp biên giới đất liền thế kỷ XIX và bối cảnh các công ước hoạch định biên giới Pháp - Thanh (1887, 1895).
  • Các bộ thông sử: Phan Huy Lê chủ biên (2012, Lịch sử Việt Nam tập 2), Trương Thị Yến chủ biên (2013, Lịch sử Việt Nam tập 5), Võ Kim Cương chủ biên (2013, Lịch sử Việt Nam tập 6): Trình bày bối cảnh đối ngoại nửa đầu và nửa cuối thế kỷ XIX.

Các công trình của tác giả nước ngoài:

  • Henri Cordier (1883, Le Conflit entre la France et la Chine), Castonnet des Fosses (1883, Les Relations de la Chine et de l'Annam): Nhận định Việt Nam không phụ thuộc vào Trung Quốc dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và quyền lợi của Pháp.
  • Alexander Barton Woodside (1971, Vietnam and the Chinese model): So sánh thể chế, kỷ luật đẳng cấp và quan niệm trật tự khu vực giữa hai chính quyền nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Nhóm tác giả Đại học Sơn Đông, Đại học Sư phạm Bắc Kinh (1977, Lịch sử cận đại Trung Quốc): Nhấn mạnh địa vị phiên thuộc lệ thuộc hoàn toàn của Việt Nam đối với nhà Thanh.
  • Yoshiharu Tsuboi (1992, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 – 1885): Khảo cứu hoạt động sách phong, triều cống và thương mại thời Tự Đức; khẳng định lịch sử Việt Nam là tiến trình xác lập tính độc lập với Trung Hoa.
  • A. Delvaux, L. Cadière (1997, Những người bạn cố đô Huế tập 3): Mô tả nghi lễ sắc phong thời Tự Đức và quan hệ đối ngoại thời kỳ này.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:

  1. Thiếu công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đặt quan hệ ngoại giao Việt - Trung trong tính liên hoàn xuyên suốt hai giai đoạn trước và sau năm 1858 (1802 - 1858 và 1858 - 1885).
  2. Mối quan hệ ngoại giao trên phương diện kinh tế chưa được khảo sát đầy đủ ở cả 3 tuyến (thương mại triều cống, buôn bán đường biển, buôn bán đường bộ) trong giai đoạn sau năm 1858.
  3. Đối thoại qua thơ văn bang giao chưa được phân tích sâu sắc như một công cụ ngoại giao quyền năng.
  4. Thiếu vắng sự tái hiện hoàn chỉnh chân dung và đóng góp của các vị chánh, phó sứ tiêu biểu (Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Du, Đặng Huy Trứ, Lý Văn Phức, Nguyễn Tư Giản...).
  5. Chưa xây dựng được hệ thống luận cứ chặt chẽ để giải quyết thấu đáo cuộc tranh luận về tính chất độc lập hay phụ thuộc của Việt Nam đối với nhà Thanh trong thế kỷ XIX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các khái niệm và khung phân tích về quan hệ bang giao khu vực Đông Á truyền thống: cấu trúc "Thượng quốc - Chư hầu", cơ chế "Tôn chủ - Phiên thuộc", các định chế sách phong, triều cống, lễ sính, thương mại triều cống (thương mại kiêm nhiệm) và thương mại thuần túy.

Nguồn tư liệu sử dụng:

  • Nguồn sử liệu gốc triều Nguyễn: Các bộ biên niên sử và hội điển chính thống gồm Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (đặc biệt mục Bang giao từ quyển 128 đến quyển 130), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam liệt truyện chính biên, Minh Mệnh chính yếu. Hệ thống Châu bản triều Nguyễn gồm các bản tấu, phúc tấu của bộ Công, bộ Hộ và chỉ dụ của các vua Nguyễn (như các bản tấu về đo đạc, cắm mốc, vãng thám Hoàng Sa năm 1838 thời Minh Mệnh và năm 1847 thời Thiệu Trị).
  • Nguồn tư liệu Hán Nôm chép tay: Các văn tập, điển lệ lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm Bang giao lục (邦交錄), Vũ Đông Dương văn tập (武東暘文集), Như Yên văn thảo (如燕文草), Văn tập (文集)...
  • Nguồn tư liệu điền dã: Thu thập tại cố đô Huế và quê hương của các danh sứ thế kỷ XIX.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Tái hiện tiến trình quan hệ ngoại giao Việt - Trung theo trật tự thời gian từ năm 1802 đến năm 1885.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng so sánh lịch đại (đối chiếu giai đoạn 1802 - 1858 với giai đoạn 1858 - 1885) và so sánh đồng đại (đối sánh tiềm lực, vị thế, thái độ giữa Việt Nam và Trung Quốc).
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức lịch sử với văn học Hán Nôm, kinh tế học thương nghiệp và chính trị học quốc tế.
  • Phương pháp thống kê định lượng: Lập biểu bảng lượng hóa tần suất các chuyến đi sứ cầu phong, sắc phong, triều cống, lễ sính; định lượng khối lượng cống phẩm, phẩm vật đáp lễ và quy định ngạch thuế mậu dịch để làm căn cứ so sánh, đánh giá khách quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này tập trung hệ thống hóa thành tựu của các học giả trong nước và quốc tế theo từng giai đoạn lịch sử và từng mảng đề tài chuyên biệt (chính trị, kinh tế, văn hóa, lãnh thổ). Tác giả chỉ ra những đóng góp của các công trình đi trước, đồng thời phân tích rõ 5 khoảng trống học thuật cơ bản về tính toàn diện, tính liên tục qua mốc 1858, diện mạo kinh tế sau năm 1858, đối thoại thơ văn bang giao và vị thế độc lập thực chất của Việt Nam để xác định hướng tiếp cận riêng của luận án.

Chương 2: QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1802 – 1858

Chương 2 phân tích hoàn cảnh lịch sử tác động đến quan hệ song phương và phục dựng toàn diện các hoạt động ngoại giao trước khi Pháp xâm lược:

  • Hoàn cảnh lịch sử: Về phía Việt Nam, triều Nguyễn thành lập sau khi lật đổ nhà Tây Sơn, gặp khó khăn về tâm lý xã hội (nhất là sự quyến luyến nhà Lê của nhân dân Bắc Hà), do đó có nhu cầu bang giao với nhà Thanh để hợp thức hóa tính chính thống. Dù củng cố được bộ máy tập trung nhưng kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế. Về phía Trung Quốc, thất bại quân sự năm 1788 trước phong trào Tây Sơn khiến triều Thanh phải kiêng nể Việt Nam. Tuy nhiên, sau Chiến tranh thuốc phiện (1840), triều Thanh suy yếu, phải ký kết các điều ước bất bình đẳng với phương Tây (Điều ước Vong Hạ năm 1844 với Mỹ, Điều ước Hoàng Thổ năm 1844 với Pháp) và đối phó phong trào Thái Bình Thiên Quốc (1851).
  • Hoạt động xin đổi quốc hiệu (1802 - 1804): Tháng 5/1802, vua Gia Long cử Trịnh Hoài Đức sang Trung Quốc; tháng 11/1802 tiếp tục cử Lê Quang Định mang quốc thư xin phong và xin đổi quốc hiệu thành Nam Việt. Vua Gia Khánh nhà Thanh e ngại quốc hiệu Nam Việt trùng với đất Nam Việt xưa của Triệu Đà (gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây). Trước sự kiên quyết của vua Gia Long (đe dọa không nhận thụ phong nếu không được chấp thuận), nhà Thanh chấp thuận đảo thành "Việt Nam". Quốc hiệu Việt Nam được tuyên cáo chính thức ngày 17 tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804).
  • Hoạt động cầu phong, thụ phong: Diễn ra 4 lần cử sứ cầu phong của Việt Nam và 4 lần cử sứ tuyên phong của nhà Thanh:
Triều vua Việt Nam Năm cử sứ cầu phong Chánh sứ / Đại diện sứ bộ Việt Nam Năm triều Thanh sang sắc phong Lễ phẩm xin phong chính thức
Gia Long 1802 Lê Quang Định 1804 2 cân kỳ nam, 2 đôi ngà voi, 4 cỗ tê giác, 100 cân trầm hương, 200 cân tốc hương; trừu, lụa nõn, lụa mộc, vải mỗi thứ 200 tấm.
Minh Mệnh 1820 Sứ bộ triều Nguyễn 1822 2 đôi ngà voi, 4 cỗ tê giác, 50 cân trầm hương, 100 cân tốc hương; trừu, lụa nõn, lụa mộc, vải mỗi thứ 100 tấm.
Thiệu Trị 1841 Sứ bộ triều Nguyễn 1842 2 đôi ngà voi, 4 cỗ tê giác, 50 cân trầm hương, 100 cân tốc hương; trừu, lụa nõn, lụa mộc, vải mỗi thứ 100 tấm.
Tự Đức 1848 Sứ bộ triều Nguyễn 1849 2 đôi ngà voi, 4 cỗ tê giác, 50 cân trầm hương, 100 cân tốc hương; trừu, lụa nõn, lụa mộc, vải mỗi thứ 100 tấm.
  • Triều cống, lễ sính, biên giới và mậu dịch: Luận án làm rõ thể thức tiếp sứ nghiêm ngặt từ ải Nam Quan qua Bắc Thành đến Phú Xuân; hoạt động quản lý biên giới và xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa qua các chỉ dụ và châu bản; mậu dịch triều cống kiêm nhiệm diễn ra sôi nổi kết hợp với mạng lưới buôn bán đường bộ và đường biển của Hoa thương.

Chương 3: QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1858 – 1885

Chương 3 trình bày những biến động của quan hệ ngoại giao dưới tác động của sự can thiệp thực dân:

  • Bối cảnh lịch sử: Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (1858), chiếm đóng Nam Kỳ và từng bước mở rộng chiến tranh ra Bắc Kỳ. Triều đình Mãn Thanh vừa chịu sự khống chế của các cường quốc phương Tây vừa tìm cách duy trì ảnh hưởng tại các nước tiếp giáp biên giới phía Nam.
  • Nội dung hoạt động ngoại giao: Các nghi lễ cầu phong, thụ phong, triều cống và lễ sính bị đình trệ, gián đoạn và giảm sút tần suất so với giai đoạn trước. Các tuyến mậu dịch biên giới và đường biển chịu sự kiểm soát, điều chỉnh qua các quy định thuế khóa mới dưới thời vua Tự Đức đối với thuyền buôn Trung Hoa tại Bắc Kỳ.
  • Đối thoại văn hóa và sứ thần: Khắc họa hoạt động của các sứ đoàn trong hoàn cảnh khó khăn, làm nổi bật vai trò của các danh sứ như Đặng Huy Trứ, Lý Văn Phức, Nguyễn Tư Giản trong việc đối đáp văn thơ, giữ gìn thể diện quốc gia và thu thập tin tức tình hình quốc tế.

Chương 4: ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN CỦA QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT – TRUNG (1802 - 1885)

Chương 4 tổng kết và đánh giá toàn diện các chuyển biến:

  • Chuyển biến trong hoạt động ngoại giao: Tần suất triều cống, lễ sính giảm rõ rệt giữa hai giai đoạn 1802 - 1858 và 1858 - 1885 (được minh họa bằng các Biểu đồ 4.1, 4.2, 4.3 trong luận án). Hoạt động thương mại triều cống quan phương thu hẹp, nhường chỗ cho các quan hệ mậu dịch biên mậu mang tính ứng phó tình thế.
  • Chuyển biến trong thái độ chính trị:
    • Triều Nguyễn: Chuyển từ lập trường nỗ lực tự chủ kháng Pháp trong giai đoạn đầu sang cầu viện triều Thanh khi tình thế quân sự nguy ngập.
    • Triều Thanh: Chuyển từ thái độ giằng co, đưa quân sang Bắc Kỳ nhằm bảo vệ quyền lợi tôn chủ sang thỏa hiệp nhượng bộ với Pháp, đỉnh điểm là việc ký kết Hiệp ước Thiên Tân (tháng 6/1885), chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp tại Việt Nam và chấm dứt vĩnh viễn quan hệ thượng quốc - chư hầu.
  • Bản chất quan hệ: Khẳng định mối quan hệ "thượng quốc - phiên thuộc" thực chất chỉ mang tính hình thức nghi lễ, còn về thực chất chính trị nội trị và chủ quyền lãnh thổ, Việt Nam hoàn toàn độc lập và tự chủ đối với Trung Quốc.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc suốt từ năm 1802 đến năm 1885, làm sáng tỏ các chuyển biến nội tại trên cả ba phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa.
  2. Làm sáng tỏ luận điểm khoa học về tính độc lập thực chất của Việt Nam trong bang giao với nhà Thanh; bác bỏ các quan điểm cho rằng Việt Nam bị lệ thuộc chính trị hoặc kinh tế; bác bỏ nhận định mậu dịch Việt - Trung thế kỷ XIX là bức tranh u ám do chính sách bế quan tỏa cảng.
  3. Khai thác và phục dựng hệ thống văn thơ bang giao, gắn liền với việc phân tích đóng góp cụ thể của các sứ thần tiêu biểu triều Nguyễn (Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Du, Đặng Huy Trứ, Lý Văn Phức, Nguyễn Tư Giản...).
  4. Đúc kết bài học lịch sử về nguyên tắc giữ vững chủ quyền dân tộc đi đôi với phương châm ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt trong quan hệ với quốc gia láng giềng lớn, phục vụ công tác đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập của Việt Nam hiện nay.
  5. Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị sử liệu học cao cho việc giảng dạy và nghiên cứu chuyên đề lịch sử quan hệ song phương Việt - Trung và đối ngoại khu vực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu lưu trữ từ phía Trung Quốc còn hạn chế, luận án tập trung khai thác chủ yếu nguồn sử liệu gốc của Việt Nam, vì vậy nội dung nghiên cứu có phần nghiêng nhiều hơn về chiều tác động từ phía Việt Nam sang Trung Quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo cứu văn khố, tư liệu gốc của Trung Quốc và các nguồn tư liệu ngoại giao của Pháp để hoàn thiện cái nhìn đa chiều, toàn diện hơn về tương quan tương tác giữa ba bên (Việt - Thanh - Pháp) trong nửa sau thế kỷ XIX.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng phục vụ: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Văn học Hán Nôm và các nhà hoạch định chính sách đối ngoại.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật: Hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết các sứ bộ cầu phong, sắc phong, triều cống, lễ sính và ngạch thuế mậu dịch; hệ thống sử liệu trích lục từ Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa và các trích đoạn văn thơ bang giao thế kỷ XIX.

Câu hỏi thường gặp

1. Cuộc đấu tranh ngoại giao xin đổi quốc hiệu dưới thời vua Gia Long diễn ra như thế nào?
Tháng 11/1802, vua Gia Long cử Lê Quang Định sang triều Thanh xin đổi quốc hiệu thành Nam Việt. Hoàng đế Gia Khánh ban đầu bác bỏ vì lo ngại quốc hiệu Nam Việt trùng với lãnh thổ thời Triệu Đà (gồm cả Lưỡng Quảng). Vua Gia Long kiên quyết giữ lập trường, dâng biểu cảnh báo sẽ không thụ phong nếu không được công nhận. Triều Thanh sau đó chấp thuận đổi tên nước thành Việt Nam, chính thức ban bố ngày 17/2/1804.

2. Lễ phẩm xin phong của triều Nguyễn cử sang nhà Thanh trong giai đoạn 1802 - 1858 gồm những gì?
Năm 1802 thời Gia Long, lễ phẩm gồm 2 cân kỳ nam, 2 đôi ngà voi, 4 cỗ tê giác, 100 cân trầm hương, 200 cân tốc hương, cùng trừu, lụa nõn, lụa mộc, vải mỗi thứ 200 tấm. Từ thời Minh Mệnh (1820) trở đi, định mức giảm xuống còn: 2 đôi ngà voi, 4 cỗ tê giác, 50 cân trầm hương, 100 cân tốc hương, cùng trừu, lụa nõn, lụa mộc, vải mỗi thứ 100 tấm.

3. Châu bản triều Nguyễn trong luận án phản ánh tư liệu gì về chủ quyền biển đảo?
Châu bản triều Nguyễn ghi lại các bản tấu, phúc tấu của bộ Công, bộ Hộ và chỉ dụ của các vua Nguyễn về hoạt động thực thi chủ quyền thường niên tại quần đảo Hoàng Sa thông qua đo đạc thủy trình, cắm mốc, vẽ họa đồ và vãng thám (tiêu biểu như các văn bản năm Minh Mệnh thứ 19 tức 1838 và năm Thiệu Trị thứ 7 tức 1847).

4. Quan hệ ngoại giao Việt - Trung chuyển biến căn bản ra sao sau năm 1858?
Sau khi Pháp xâm lược (1858), tần suất các hoạt động cầu phong, triều cống, lễ sính và thương mại triều cống quan phương suy giảm rõ rệt. Về mặt chính trị, triều Nguyễn chuyển từ tự chủ sang cầu viện triều Thanh; trong khi triều Thanh chuyển từ tranh chấp ảnh hưởng sang thỏa hiệp với Pháp, dẫn đến việc ký kết Hiệp ước Thiên Tân năm 1885.

5. Mốc lịch sử nào chấm dứt vĩnh viễn quan hệ thượng quốc - chư hầu giữa nhà Thanh và Việt Nam?
Hòa ước Thiên Tân ký kết giữa Pháp và triều đình Mãn Thanh vào tháng 6/1885 là văn bản pháp lý quốc tế đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn cơ chế quan hệ "thượng quốc - chư hầu" kéo dài nhiều thế kỷ giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về sự chuyển biến của quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 1802 - 1885. Dựa trên nguồn sử liệu gốc phong phú, công trình đã làm sáng tỏ tính tự chủ thực chất của triều Nguyễn trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa và giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ. Những phát hiện và bài học ngoại giao lịch sử trong luận án đóng góp nguồn tư liệu khoa học xác thực cho nghiên cứu lịch sử và công tác đối ngoại đương đại.