Chương 1. QUAN HỆ HOA KÌ – CHND TRUNG HOA TRƯỚC NĂM 1972 1. Bối cảnh quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu thập niên 70 Khi đại chiến thế giới thứ hai sắp kết thúc, nhân loại tiến bộ hi vọng giá trị hòa bình sẽ được đề cao trên đóng tro tàn do cuộc chiến tranh gây ra. Nhưng sự hi vọng và niềm tin đó nhanh chóng bị phá vỡ, “tương lai chợt bừng sáng.
Bóng tối xua tan. Rừng rực một không khí cuồng hoan…Người ta đang hoan hô. Người ta đang nhảy múa. Họ tưởng chiến tranh đã chấm dứt.
Mà chiến tranh lại mới chỉ bắt đầu” [26;3]. Một cuộc chiến tranh mới diễn ra ngay sau đó – Chiến tranh Lạnh, góp phần tạo nên cục diện quan hệ quốc tế đầy biến động hơn nửa thế kỉ, trong đó Mĩ đứng đầu khối TBCN và Liên Xô đứng đầu khối XHCN đóng vai trò chủ đạo. Chiến tranh lạnh là một trong những chương lạ nhất trong lịch sử quan hệ quốc tế, cuộc chiến xoắn tất cả các quốc gia vào cùng một quỹ đạo, nhưng lại bị chi phối bởi các siêu cường. Có nhiều ý kiến về thời điểm khởi đầu cuộc chiến, chẳng hạn năm 1917 với sự ra đời của nước Nga Xô Viết do Lênin lãnh đạo đã “đe dọa” trực tiếp đến nền chính trị của CNTB, nhưng đa số các học giả thừa nhận đến giai đoạn cuối chiến tranh thế giới thứ hai, khi mà quan hệ giữa Washington và Moscow xấu đi vì những bất đồng trong việc thỏa thuận một số vấn đề liên quan đến lợi ích hai nước.
Tại hội nghị Ianta (2/1945), đặc biệt là hội nghị Postdam (17/7 – 2/8/1945), đã diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt giữa các nước đồng minh tham gia chống phát xít, mặc dù kết quả các cuộc tranh luận, trao đổi ý kiến đã thông qua được một số nghị quyết quan trọng, các hiệp nghị được thỏa thuận, một số văn kiện được phê chuẩn, nhưng kết quả không thể làm hài lòng các nước tham gia có tư tưởng nước lớn. Hội nghị Postdam được nhận định, nó không phải là “điểm cuối cùng” trong cuộc chiến tranh giữa các nước lớn, mà - 12 - là “điểm khởi đầu” của cuộc chiến tranh lạnh [26;124]. Một trật tự thế giới mới đã được hình thành do thỏa thuận từ các hội nghị - đó là trật tự hai cực Xô – Mĩ, tuy được cấu thành và duy trì bởi một hệ thống các yếu tố, nhưng tất cả được phân tuyến một cách triệt để. Liên Xô hay Mĩ đã làm cho mối quan hệ quốc tế trở nên căng thẳng từ 1945 đến 1991, để thế giới luôn sống trong tình trạng chiến tranh thường trực.
Đặc trưng của chiến tranh lạnh được tạo nên bởi sự nghi ngờ lẫn nhau, sự mất lòng tin, hiểu lầm giữa Mĩ và Liên Xô, cùng các đồng minh của họ. Mĩ cáo buộc Liên Xô tìm cách tuyên truyền, mở rộng CNCS trên phạm vi toàn cầu. Trong khi đó, Liên Xô lập luận Mĩ đang tiến hành ý đồ đế quốc và ra sức ngăn chặn nền độc lập, tự do ở các nước. Mĩ muốn một thế giới của các quốc gia độc lập với nguyên tắc tự do dân chủ là nền tảng – hòa bình kiểu Mĩ ( Pax America).
Liên Xô thì muốn giữ những khu vực quan trọng cho lợi ích quốc gia [86]. Theo lập luận trên, do sự “hiểu lầm” giữa Mĩ và Liên Xô đã tạo nên cục diện đối đầu Đông – Tây. Với ưu thế nổi trội trên tất cả các lĩnh vực, Mĩ có điều kiện triển khai chiến lược toàn cầu của mình sau chiến tranh thế giới thứ hai. Trong số các nước tư bản hùng mạnh trước chiến tranh thì Ý, Đức, Nhật Bản đã bị đánh bại; Anh, Pháp cũng không tránh khỏi sự tàn khốc do chiến tranh gây ra.
Năm 1946, Mĩ chiếm đến 62% sản lượng công nghiệp và 40,1% tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của thế giới tư bản, trở thành nước cung cấp và chủ nợ cho các nước tư bản phụ thuộc. Giữ ưu thế tuyệt đối về mặt quân sự, độc quyền về vũ khí nguyên tử, có 1,2 triệu quân đóng ở 58 nước, trên 400 căn cứ không quân và hải quân khắp thế giới, nhiều tổ chức quốc tế, quân sự có sự tham gia và chịu sự chi phối rõ nét của Mĩ [22;46]. Rõ ràng, sau chiến tranh thế giới thứ hai là thời đại của Mĩ, nước này đã không bỏ lỡ cơ hội ra sức gia tăng vị thế, vai trò trong quan hệ quốc tế. Nếu xem xét tổng thể khối TBCN, thì những năm đầu sau thế chiến thứ hai, khối này giảm sút về địa vị quốc tế trên nhiều mặt, khi đó với vai trò là lực lượng chủ - 13 - chốt trong cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít, vị thế và hình ảnh của Liên Xô, CNXH được nâng cao hơn bao giờ hết.
CNXH trở thành hệ thống thế giới, làm chổ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc xuất hiện ngay trong lòng chiến tranh thế giới thứ hai và sau chiến tranh đã nhanh chóng phát triển thành cao trào. Điều này đã thách thức nghiêm trọng ưu thế chủ nghĩa đế quốc, sự ảnh hưởng của Liên Xô và CNXH trên thế giới ngày càng tăng, do đó nó có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Washington. Trong giai đoạn khoảng thời gian hai thập niên sau thế chiến thứ hai Mĩ triển khai đường lối đối ngoại với một số điểm nổi bật:1) Củng cố liên minh quân sự với các nước đồng minh phương Tây cũ; 2) Mở rộng các liên minh mới để hạn chế sự bành chướng của khối CNXH; 3) Phát triển viện trợ, tái thiết sau chiến tranh và giúp đỡ cần thiết các quốc gia sụp đổ từ cuộc chiến, các quốc gia mới giành độc lập không rơi vào ảnh hưởng của khối XHCN [6;604]. Theo đó, với nhiều biện pháp được triển khai một cách cụ thể nhằm ngăn ngừa “sự mở rộng của CNCS”, bảo vệ “thế giới tự do”.
Mục tiêu cơ bản chiến lược toàn cầu của Mĩ phản ánh đậm nét bản chất giai cấp và cơ sở kinh tế xã hội của nước này – nhà nước Hoa Kì là đại diện các thế lực tư bản độc quyền, các tổ chức quân sự công nghiệp, luôn tìm cách bành trướng sức mạnh, kinh tế, chính trị, quân sự ra bên ngoài. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, CNTB độc quyền ở Mĩ phát triển ngày càng cao tạo điều kiện cho sự tập trung, tích tụ tư bản…làm công cụ để thực hiện chiến lược toàn cầu. Đa phần giới lãnh đạo Nhà Trắng đều ủng hộ mục tiêu chống Liên Xô, CNXH, Lucius D.Clay – tư lệnh Mĩ nắm quyền thời tạm chiếm tại Đức cho rằng “Liên Xô thực sự muốn xây dựng một chế độ giống họ ở khắp các nước Đông Âu bằng cách hậu thuẫn cho Đảng cộng sản từng nơi. Hoàn toàn không có việc họ sẽ chấp nhận để các nước tự quyết định hệ thống chính trị cho mình” [6;604].
Kennan – nhà ngoại giao Mĩ, năm 1947 đã phát biểu “một chính sách ngăn chặn làm cho người Nga phải đương đầu với những lực lượng đối trọng không thể thay thế. Ở bất cứ thời điểm nào khi họ có dấu hiệu xâm phạm đến lợi ích của thế giới hòa bình và ổn định” [95]. Ngày 12/3/1947, tổng thống Mĩ – Truman trong bài diễn văn trước Quốc hội - 14 - chính thức phát động cuộc chiến tranh Lạnh chống Liên Xô, CNXH. Mĩ đã chọn Châu Âu là chiến trường chính để chống lại sự lan rộng của CNCS, thông qua gói viện trợ 400 triệu USD về quân sự, kinh tế cho chính phủ Thổ Nhĩ Kì và Hy Lạp, sau khi Anh thông báo với các quan chức ngoại giao Mĩ là nước này không đủ sức cung cấp tài chính cho các nước nói trên, yêu cầu Mĩ phải can thiệp vì nếu “không kiểm soát được hai quốc gia này, CNCS có khả năng sẽ lan rộng về phía Nam Iran và tận phía Đông Ấn Độ” [80].
Trong bài diễn văn Tổng thống Truman tuyên bố: chính sách của Mĩ để hỗ trợ các dân tộc tự do, những người đang chống lại sự cố gắng chinh phục có mục đích của số ít có vũ trang hay áp lực bên ngoài. Với nhận định, những khó khăn và sự phục hồi chậm chập kinh tế - xã hội ở các nước Châu Âu đã mang đến cho châu lục này một cảm giác tuyệt vọng và thất vọng. Châu Âu dường như sẵn sàng ngã theo lực lượng nào giúp đỡ họ khôi phục lại vị thế trước chiến tranh. Như vậy, chiến lược ngăn chặn của Mĩ không chỉ giới hạn, hạn chế sử mở rộng của Liên Xô mà còn mở rộng đến việc ngăn chặn sự bành trướng của CNCS ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Mĩ tin tưởng sự thành công của kế hoạch “ngăn chặn” phải dựa vào việc chính phủ và nhân dân Mĩ cùng toàn thể nhân dân các quốc gia “tự do” nhận thức được: chiến tranh lạnh thực tế là một cuộc chiến tranh thực sự có quan hệ đến sự sống còn của thế giới tự do. Những động thái từ Moscow luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Washington, điển hình như sự kiện tháng 9/1949 điện Kremlin thử thành công bom nguyên tử. Sự kiện này tác động một cách mạnh mẽ vào lòng tự hào của người Mĩ về loại vũ khí hủy diệt, bởi vì “độc quyền về bom nguyên tử của Hoa Kì là thứ để dành và mang ra sử dụng khi có mâu thuẫn về quyền lực hậu chiến với Liên Xô” [5;151]. Ngay sau đó, kế hoạch mang tên bản ghi nhớ 68 của Hội đồng an ninh quốc gia (NSC – 68) được Quốc hội Mĩ thông qua, chính thức khởi động cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô kéo dài suốt mấy thập kỉ.
Cuộc chạy đua này trở thành một bộ phận quan trọng của chiến tranh Lạnh, đồng thời góp phần lớn chi phối các vấn đề trong quan hệ quốc tế cũng như quan hệ song phương Mĩ – Xô từ sau thế chiến thứ hai. Với kế hoạch NSC – - 15 - 68, quốc hội đề nghị tăng ngân sách quốc phòng từ 13 tỉ USD lên 50 tỉ USD trong năm tài khóa đầu tiên, kế hoạch này được đánh giá là sự mở rộng học thuyết Truman lúc đầu chỉ áp dụng cho Tây Âu, kế hoạch quán triệt nội dung “một chiến lược quân sự mới mà lý do chủ yếu là Hoa Kì đã mất độc quyền vũ khí hạt nhân….Hoa Kì công khai lo lắng là Liên Xô có kế hoạch khuất phục Tây Âu bằng vũ lực vì thế Hợp chủng quốc Hoa Kì cần nhanh chóng thiết lập một mặt trận mới….Mặt trận ấy có nghĩa vụ làm thành một vòng cung mạnh bao vây Liên Xô từ nhiều phía” [35;124].