mở đầu cho một cao trào cách mạng lớn đầu thế kỷ XX ở cả Châu Âu và Châu Á. Sau chiến tranh Nga – Nhật và cách mạng 1905-1907, địa vị quốc tế của Nga yếu đi nhiều. Chế độ Nga hoàng phụ thuộc hơn vào các nước phương 19 Tây. Lo lắng trước sự phát triển ảnh hưởng của Đức ở Balkan và của Thổ Nhĩ Kì ở Cận Đông, chính phủ Nga Hoàng quay sang gần gũi với Anh.
Ngày 18- 08-1907 hiệp ước phân định quyền lợi của Nga và Anh ở Iran, Afganistan và Tây tạng được ký ở Petersburg: Iran bị chia thành 3 vùng: miền Bắc thuộc về khu vực ảnh hưởng của Nga, vùng Đông – Nam của Anh và miền Trung – trung lập. Từ đầu thập niên 1910 tình hình quốc tế ngày càng trở nên căng thẳng. Các nước tư bản chủ nghĩa lớn ở Châu Âu, kể cả Nga, đã chia thành 2 khối thù địch nhau và ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Cuộc cách mạng nổ ra ở Trung Quốc năm 1911, cuộc chiến tranh Balkan (1912-1913) càng khoét sâu thêm những mâu thuẫn vốn đã sâu sắc giữa hai khối.
Nước Nga chuyên chế lạc hậu hơn các nước đế quốc khác về quân sự nên vào năm 1912 Nga đề ra chương trình khôi phục lại hạm đội Baltic. Cuối năm 1913, chính phủ lại đề ra cái gọi là “Chương trình lớn về tăng cường quân đội”, dự định “đến năm 1917 tăng quân số lên 480. Năm 1912, tại cuộc họp những người đứng đầu Bộ tổng tham mưu Nga và Pháp, phía Pháp đòi Nga xây dựng các con đường sắt chiến lược và tăng cường lực lượng cơ động. Các đồng minh không hề che dấu “ý đồ giành cho quân đội Nga vai trò làm bia đỡ đạn trong cuộc chiến tranh sắp tới”[38;289].
Chính sách của chính phủ Nga Hoàng đặt nước Nga vào vị trí của kẻ đánh thuê. Trước nguy cơ chiến tranh, những người Bolshevik ở Nga tăng cường hoạt động trong công nhân, nông dân và binh lính. Họ lợi dụng diễn đàn Duma quốc gia IV để giải thích cho quần chúng về chính sách phản động của chế độ chuyên chế cũng như thực hiện tuyên truyền cho cách mạng. Ý thức cách mạng bắt đầu phát triển trong bộ phận tiên tiến của nông dân và binh lính.
Năm 1912, thủy thủ ở hạm đội Baltic và hạm đội biển Đen dự định khởi 20 nghĩa nhưng kế hoạch bị bại lộ nên chính phủ Nga Hoàng khủng bố dã man. Đấu tranh nổ ra ở nhiều thành phố phản đối hành động đàn áp của chính quyền. Cuộc khởi nghĩa của công binh ở Tashkent tháng 7-1912 cũng bị dập tắt. Năm 1914, chỉ trong “6 tháng rưỡi (trước chiến tranh) số người bãi công đã lên đến 1,5 triệu”[38;289].
Bãi công chính trị chiếm đến 80% các cuộc bãi công. Giai cấp công nhân Petersburg tỏ ra đặc biệt kiên cường. Trong những năm 1911-1914 “công nhân ở đây đã chiếm 17% tổng số công nhân cả nước nhưng đã đạt hơn 45% số người tham gia bãi công”[38;289]. Kinh đô biến thành trại lính.
Những cuộc truy lùng, bắt bớ những người Bolshevik diễn ra ráo riết. Trong tình hình đó, ủy ban Petersburg của đảng Bolshevik kêu gọi công nhân ngừng bãi công một cách có tổ chức. Cáccuộc bãi công chấm dứt nhưng giới chủ tuyên bố giảm thợ, đóng cửa xưởng. Một cuộc đấu tranh mới, lớn hơn của giai cấp vô sản lại được chuẩn bị.
Sự bùng nổ của chiến tranh thế giới đã làm phong trào cách mạng tạm ngừng. Chính phủ Nga hoàng hi vọng nhờ chiến tranh để thoát khỏi cách mạng cũng như mong muốn giành được những thắng lợi để bù đắp cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở mức độ thấp kém ở nước này. Nước Nga nhanh chóng bước vào thế chiến thứ nhất. Quan hệ Nhật Bản – Nga từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX 1.
Vấn đề Triều Tiên Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khi chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và thuộc địa của cả hai nước Nhật - Nga ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, những tranh chấp về lãnh thổ ở 21 Triều Tiên và Trung Quốc làm cho mâu thuẫn giữa Nhật - Nga thêm sâu sắc. Từ những thập niên 70 và 80 của thế kỉ XIX, cả Nhật và Nga đều ép Triều Tiên kí những hiệp ước bất bình đẳng. Thắng lợi trong cuộc chiến tranh Nhật – Trung (1894-1895), Nhật buộc nhà Thanh phải từ bỏ quyền khống chế Triều Tiên.
Từ đây “Nhật có thể nô dịch Triều Tiên và đi sâu vào lãnh thổ Trung Quốc” nhưng “sẽ vấp phải đế quốc Nga cũng đang muốn chi phối số phận của nhân dân và nền chính trị Triều Tiên”[30;380]. Tại Triều Tiên, “người Nhật hãnh diện vì tưởng mình đã giúp Triều Tiên độc lập, thoát khỏi Trung Quốc, ngoài ra Nhật còn cố gắng cải tổ những phong tục cổ hủ của Triều Tiên” nhưng “Triều Tiên tỏ vẻ thân thiện với Nga hơn và vẫn giữ mối hiềm thù Nhật”[9;88]. Vào năm 1895, Nhật Bản buộc vua Triều Tiên phải tiếp tục cải cách, song triều đình Triều Tiên dần dần ngã về Nga. Ngày 14-05-1895, “Nhật Bản và Nga ký hoà ước tại Seoul, thống nhất không can thiệp vào công việc nội bộ Triều Tiên, nhưng khi có loạn hai bên sẽ cùng can thiệp, mỗi bên đóng tại Triều Tiên 1.000 quân để bảo vệ kiều dân, hải cảng”[39;105].
Tuy nhiên, vào tháng 10-1895, đại sứ Nhật Bản Miura điều khiển phe thân Nhật tiến hành đảo chính, bắt giữ vua và giết hoàng hậu. Nhà vua phải trốn và tỵ nạn tại lãnh sự quán Nga suốt một năm và tuyên bố bãi bỏ mọi cải cách do người Nhật Bản áp đặt. Đến năm 1896, tại Triều Tiên, người Nga đã dựng lên chính phủ thân Nga, phế bỏ nội các thân Nhật làm cho mâu thuẫn Nga – Nhật ngày càng gay gắt. Tháng 02-1897, vua Triều Tiên trở về hoàng cung và khôi phục vương, hiệu.
Ngày 12-10-1897, Triều Tiên yêu cầu Nga gởi sĩ quan huấn luyện quân sự, đặt đường sắt, lập sở Thương chính. Trong khi đó, một phong trào Quốc gia lan rộng ở Triều Tiên, nhân dân muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Nhật Bản, Nga và cả Trung Quốc. 22 Trước làn sóng lớn mạnh của phong trào, ngày 25-04-1898, Nhật Bản và Nga phải một lần nữa ký hoà ước, trong đó giành cho Nhật Bản nhiều quyền lợi kinh tế ở Triều Tiên, cả hai cùng duy trì ảnh hưởng tại nước này nhưng bản hòa ước bị các chính khách Nga phản đối. Họ yêu cầu chính phủ Nga đặt thêm căn cứ quân sự giữa Vladivostok và Lữ Thuận.
Trước sức ép, “Nga Hoàng đã ủy quyền cho Bezobrazoff mua khu Masampo của Triều Tiên, đối diện với đất của Nhật Bản”[39;106]. Để tránh bị dòm ngó, chính phủ Nhật Bản đã gửi thông điệp cảnh báo chính quyền Triều Tiên. Vì vậy, việc mua bán giữa Nga và Triều Tiên không thành. Nhìn chung, với một loạt các bước đi trong quan hệ hai nước ở vấn đề Triều Tiên, có thể nhận định rằng: từ năm 1896-1898 “lực lượng Nga - Nhật ở thế bình quân trên bán đảo Triều Tiên” [30;380].
Quan hệ của hai nước luôn có những bất đồng nhưng khi quyền lợi bị ảnh hưởng cả hai đều sẵn sàng có sự đàm phán và bắt tay với nhau. Vấn đề Trung Quốc Song song với vấn đề Triều Tiên, cuộc tranh chấp của Nhật và Nga ở Trung Quốc ngày một căng thẳng, có dấu hiệu leo thang thành một cuộc chiến. Chiến tranh Nhật - Trung (1894-1895) kết thúc, Nhật đã buộc nhà Thanh kí hiệp ước Shimonoseki, theo đó: Trung Quốc công nhận độc lập của Triều Tiên (trên thực tế là Triều Tiên sẽ nằm trong vòng ảnh hưởng của Nhật), nhượng cho Nhật bán đảo Liêu Đông, Đài Loan và Bành Hồ, “bồi thường 200 triệu lượng (khoảng 360 triệu yên) cho Nhật”[34;159], kí hiệp ước thông thương và hàng hải với Nhật dựa trên tiêu chuẩn các hiệp ước mà nhà Thanh phải kí với các nước phương Tây, đồng thời công nhận Nhật là nước được tối đa những ưu đãi, mở cửa cảng Sa Thị, Trùng Khánh, Tô Châu, Hàng Châu và để thuyền bè Nhật đi lại trên sông Dương Tử. 23 Hòa ước Shimonoseki đã khiến cho Nga không hài lòng, vì từ lâu Nga vẫn có “tham vọng với Mãn Châu và Triều Tiên”[34;160], hy vọng có được một hay hai cảng ở Triều Tiên hoặc bán đảo Liêu Đông để thay thế cho hải cảng Vladivostok không sử dụng được vào mùa đông do bị đóng băng.
Nay bán đảo Triều Tiên đã bị Nhật chiếm nên Nga cần liên kết với Pháp, Đức ngăn cản Nhật chiếm Liêu Đông. Ngày 23-04-1895, sứ thần ba nước Anh, Pháp, Nga gửi cho thứ trưởng ngoại giao Nhật là Hayashi bản khuyến cáo: Nhật Bản nên để cho Trung Quốc chuộc lại bán đảo Liêu Đông. Sở dĩ “Pháp ủng hộ Nga vì hai nước là đồng minh và Pháp muốn Nga ủng hộ những tham vọng của mình ở phía Nam Trung Quốc. Đức giúp Nga vì Đức muốn Nga để hết tâm lực về phía Đông thay vì dính líu với vấn đề Châu Âu”[34;160].
Ngày 05-05-1895, Chính phủ Nhật đứng trước sức ép đe dọa có thể dùng cả vũ lực của Anh, Pháp, Đức nên phải “nhân nhượng trả lại cho Trung Quốc bán đảo Liêu Đông đổi lấy 30 triệu lượng bạc (khoản này Nga lấy tiền của Pháp cho Trung Quốc vay lại để trả)”[39;104]. Việc Nga liên kết với Pháp, Đức buộc Nhật phải trả Liêu Đông cho Trung Quốc khiến cho Nhật rất căm ghét Nga. Những diễn tiến tiếp theo sau đó ở Trung Quốc, khiến cho quan hệ Nhật – Nga ngày càng đi gần đến một cuộc chiến tranh. Từ năm 1896, sau khi can thiệp giúp Trung Quốc chuộc được Liêu Đông, Nga được phép nối liền đường xe lửa xuyên Siberia sang tận Trung Quốc.
Ngoài ra, Lý Hồng Chương còn nhận của Nga 1,5 triệu USD, để rồi sau đó nhường cho Nga một phần bán đảo Liêu Đông, còn cho phép Nga mở tuyến đường sắt từ Vladivostok đến Thẩm Dương, Lữ Thuận và Bắc Kinh. Nhờ vậy, “Nga có ảnh hưởng lớn tại Nam Mãn Châu và Hoa Bắc, thậm chí sang tận Triều Tiên”[7;88]. Năm 1897, nhân việc hai giáo sĩ người Đức bị giết, Đức liền đem quân chiếm Vịnh Giao Châu. Đến năm 1898, Trung Quốc 24 phải nhượng vùng này cho Đức trong 99 năm.
Đến cuối năm 1897, Nga cũng được phép tạm dùng cảng Lữ Thuận vào mùa Đông. Tháng 03-1898, Trung Quốc nhượng tiếp cho Nga hai cảng Đại Liên và Lữ Thuận trong thời hạn 22 năm. Hơn nữa, cảng Lữ Thuận chỉ dành cho tàu Nga và Trung Quốc còn Đại Liên thì mở cửa cho tất cả tàu các nước, trừ khu giành cho Nga chỉ có tàu Trung Quốc được vào. Ngoài ra, Nga còn được phép làm đường xe lửa từ hai cảng này nối với tuyến xuyên Siberia.