CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ASEAN TỪ NĂM 1949 ĐẾN CUỐI THẬP KỶ 80 ĐẦU 90/XX 1. Chính sách của Trung Quốc đối với các nước Asean từ năm 1949 đến 12/1978 Tháng 10/ 1949 nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa được thành lập. Về mặt chính trị thì rõ ràng sự xuất hiện của một nhà nước Cộng Sản lớn như Trung Quốc (dân số chiếm 1/5 dân số toàn thế giới, diện tích lớn thứ 3 thế giới sau Liên Xô và Canada) trên thế giới đã tăng cường sức mạnh thêm cho hệ thống XHCN trên toàn thế giới. Trong Thập kỷ 50, 60 của thế kỷ XX, Trung Quốc nổi lên như một “quốc gia Xã Hội Chủ Nghĩa” đầy tinh thần trách nhiệm và quốc tế vô sản cao cả.
Nhờ sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung Quốc mà nhiều quốc gia, dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đã đánh bại lực lượng thực dân, đế quốc giải phóng đất nước giành lại độc lập dân tộc. Năm 1950, Trung Quốc gửi quân đến Bắc Triều Tiên giúp nhân dân Triều Tiên đẩy lùi cuộc phản công của quân đội Nam Hàn và Mỹ. Trung Quốc cũng giúp đỡ lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị quốc phòng cho nhân dân ba nước Đông Dương trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Thế giới những năm 50 – 80 của thế kỷ XX, đã chứng kiến sự đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống ý thực (ý thức hệ Xã Hội Chủ Nghĩa và Tư Bản Chủ Nghĩa) do Liên Xô và Mỹ đứng đầu.
Cuộc đối đầu lúc âm ỉ, lúc bùng nổ, đầy căng thẳng đã chi phối hầu như toàn bộ các quan hệ quốc tế đương thời. Hai siêu cường thi nhau chạy đua vũ trang, tranh giành ảnh hưởng trên khắp thế giới đã biến nhiều khu vực trở thành bãi chiến trường – nơi thử nghiệm sức mạnh quân sự và khoa trương tiềm lực kinh tế của mình. 13 Trong bối cảnh quốc tế như vậy, 08/08/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (viết tắt là Asean) được thành lập tại BangKốc (Thái Lan). Sáng lập tổ chức này là 5 Quốc gia Đông Nam Á bao gồm: Cộng hoà InđônêxiA, Liên bang Malayxia, Cộng hoà Philippin, Cộng Hoà Singapore và Vương Quốc Thái Lan.
Mục đích của Asean là cố gắng xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, tự do và Trung lập (A Zone of Peace, Freedom and Neutrality – ZOPFAN), không có sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào từ các cường quốc bên ngoài. Như vậy, ngay từ khi mới thành lập, những người sáng lập ra tổ chức Asean đã bày tỏ mong muốn xoá bỏ tình trạng hai Đông Nam Á về chính trị, kinh tế và ý thức hệ, mong muốn xây dựng khu vực Đông Nam Á trở nên hùng mạnh về kinh tế, độc lập về chính trị và an ninh về quân sự… Tuy nhiên, do tình hình thế giới không cho phép, bản thân các nước Asean lại nhỏ bé về kinh tế, yếu đuối về chính trị và tiềm lực quân sự hạn chế nên tiếng nói của tổ chức này không có sức nặng, ước muốn ban đầu khi thành lập Asean cũng vì thế mà không thể trở thành hiện thực. Từ khi Asean được thành lập cho đến năm 1978, quan hệ giữa Trung Quốc và tổ chức này không mấy suôn sẻ mà ngược lại có những thời điểm căng thẳng luôn tiềm ẩn những nguy cơ xung đột. Điều này cũng rất dễ hiểu vì mối quan hệ này chịu sự tác động rất lớn của mối quan hệ Xô - Mỹ và lợi ích quốc gia của Trung Quốc.
Điểm qua sự biến đổi trong chiến lược an ninh của Trung Quốc kể từ khi mới thành lập nước (1949) đến cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chúng ta thấy : thập kỷ 50 Trung Quốc theo đuổi chính sách “nhất biên đảo” đi với Liên Xô chống Mỹ cùng cả hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa. Có thể nói đây là giai đoạn ảnh hưởng và vị thế của Trung Quốc đã vươn xa trên tầm thế giới và là “tuần trăng mật” của quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc. Bước sang thập kỷ 60/XX Trung Quốc lại thay đổi chiến lược “chống cả hai” – nghĩa là vừa chống Liên Xô và vừa chống Mỹ (coi Liên Xô là đế quốc 14 XHCN, coi Mỹ là đế quốc TBCN và bản thân mình là người lãnh đạo phong trào cách mạng các nước thuộc thế giới thứ 3). Đến thập kỷ 70 và 80/XX, Trung Quốc thực hiện chính sách thân Mỹ và phương Tây chống Liên Xô.
Những sự thay đổi chiến lược của Trung Quốc trong mỗi thời kỳ đều có ảnh hưởng nhất định đối với quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Asean: - Đối với Inđônêxia: nước này là quốc gia lớn nhất Đông Nam Á, vừa đông dân nhất, có nhiều nguồn tài nguyên nhất và cũng có nhiều “vấn đề” với Trung Quốc nhất trong lịch sử. Sau sự kiện người Hoa bị tàn sát ở Inđônêxia năm 1965, thì quan hệ giữa hai quốc gia này trở nên căng thẳng và Trung Quốc đã đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với Inđônêxia. - Đối với Thái Lan, Quan hệ giữa Trung Quốc và Thái Lan cũng căng thẳng không kém quan hệ giữa Trung Quốc và Inđônêxia khi Thái Lan trở thành một đồng minh thân cận của Mỹ. Mỹ đã thiết lập căn cứ quân sự trên đất Thái và có thể sử dụng sân bay hay quân đội Thái lan khi cần thiết.
Mặt khác, Thái Lan lại là một thành viên tích cực của khối quân sự SEATO mà Trung Quốc cho rằng Mỹ lập ra để tiến hành bao vây và chuẩn bị chiến tranh với Trung Quốc. Đến đầu thập kỷ 70/XX quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực (năm 1972 Trung Quốc đã ký thông cáo Thượng Hải với Mỹ và năm 1979 thiết lập quan hệ ngoại giao) nhờ đó quan hệ giữa Trung Quốc và Thái Lan cũng được cải thiện rõ rệt. Kết quả là năm 1975 Trung Quốc và Thái Lan đã thiết lập quan hệ ngoại giao mở ra một trang mới trong quan hệ hai nước. - Đối với Singapore, với số dân đa phần là người Hoa, Singapore từ khi tách ra khỏi liên bang Malayxia lập quốc riêng thì quan hệ giữa Trung quốc và đảo quốc sư tử này có nhiều bước thăng trầm.
Nguyên nhân chính là do Singapore lựa chọn Mỹ và Phương Tây trong các chính sách đối ngoại, người Singapore theo 15 đuổi chính sách lấy lợi ích quốc gia làm nên tảng, thân phương Tây để có điều kiện phát triển kinh tế.2 - Đối với Malayxia, sau khi giành được độc lập năm 1957, chính sách đối ngoại của Malayxia dựa trên nền tảng là thắt chặt quan hệ với Mỹ và phương Tây3. Với tư cách là thành viên của khối thịnh vượng chung (tham gia ký hiệp định quốc phòng Anh – Malayxia và hiệp định quốc phòng 5 nước : Anh, Oxtrâylia, Niuzilan, Malayxia và Singapore) Malayxia thường xuyên duy trì mối quan hệ gắn bó với các nước trong khối trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế. Trong lĩnh vực kinh tế Malayxia thực thi chính sách mở cửa cho đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các công ty đến từ Anh, Mỹ. Vì thế, quan hệ giữa Trung Quốc và Malayxia cũng không mấy tốt đẹp hơn các thành viên còn lại của Asean.
- Đối với Philippin, sau khi giành được độc lập từ ách cai trị của thực dân, Philippin lại trở thành một nước phụ thuộc các nước Phương Tây. Mỹ đã xây dựng nhiều căn cứ quân sự ở đây và biến Philippin thành tiền đồn chống cộng sản ở khu vực Đông Nam Á. Điều này khiến Trung Quốc hết sức lo ngại và đề phòng. Quan hệ giữa hai quốc gia này cũng giống như quan hệ giữa Thái Lan và Trung Quốc phụ thuôc nhiều vào quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc.
Chính sách của Trung Quốc đối với các nước Asean từ năm 1978 - đầu thập kỷ 90/XX. Năm 1978, sau gần hai thập kỷ lâm vào khủng hoảng và trì trệ, Trung Quốc đã tiến hành thực hiện cải cách và mở cửa. Trung Quốc đã tuyên bố với thế giới sẽ kiên trì chủ nghĩa xã hội, kiên trì thực hiện cải cách mở cửa theo tư tưởng Mao Trạch Đông dưới sự chỉ đạo của lý luận Đặng Tiểu Bình, kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc của Trung Quốc. 2 Theo cuốn sách “Bí quyết hoá rồng” do cựu tổng thống Singapore Lý Quang Diệu viết thì ông và các nhà lãnh đạo khác của Singapore đã theo đuổi chính sách đối ngoại lấy lợi ích quốc gia làm nền tảng hoạt động.
3 Nguyễn Văn Hà, Malayxia và tiến trình hợp tác Asean + 3, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á tháng 6/2006, trang 36 -37. 16 Giai đoạn đầu (12/1978 – 9/1984), Trung Quốc tập trung cải cách nông thôn, đồng thời tiến hành mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh ở thành phố và xây dựng các đặc khu kinh tế. Giai đoạn hai (10/1984 - 12/1991), Trung Quốc tập trung cải cách thành phố. Trong đó, việc quốc hữu xí nghiệp là trọng tâm và mở rộng cải cách sang các lĩnh vực khác như khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế… Kết quả cho thấy nền kinh tế Trung Quốc dần dần hồi phục và bắt đầu tăng trưởng, trong thập kỷ 80/XX, mức tăng GDP của Trung Quốc là 10,1%, sang thập kỷ 90/XX mức tăng trưởng này còn cao hơn, đạt 10,3%.
Kim ngạch thương mại của Trung Quốc năm 1978 là 20,6 tỷ USD thì đến năm 1997 đã đạt con số 325,1 tỷ USD – tương đương với 36% GDP, bình quân mỗi năm tăng trưởng 15,6%, cao hơn nhiều so với tổng thu nhập quốc dân…4 Cùng với việc canh tân đất nước thì chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng đã bắt đầu thay đổi. Nếu như trong Triều đại Mao Trạch Đông (thập kỷ 50 - 60/XX), Trung Quốc chỉ đơn giản chia thế giới ra làm “hai mặt trận”, phe TBCN và phe XHCN đối kháng nhau, thì bước sang thập kỷ 70 nhận định này của Trung Quốc đã có sự thay đổi. Thế giới mà Trung Quốc nhìn nhận là “ba thế giới” với ba thế lực khác nhau trong đó lực lượng không liên kết của thế giới thứ 3 phát triển ngày càng mạnh và Trung Quốc nuôi tham vọng trở thành người lãnh đạo thế lực này. Trên cơ sở hai đánh giá đó nhận thực về chiến tranh và hoà bình của Trung Quốc chịu ảnh hưởng lớn của thuyết mâu thuẫn trong cục diện thế giới.
Trung Quốc trong thời đại Mao Trạch Đông cho rằng “chiến tranh sắp nổ ra”, do đó chiến lược ngoại giao và chiến lược đối nội của Trung Quốc là “phải chuẩn bị đánh sớm và đánh lớn”.