MỞ ĐẦU. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. Lý do chọn đề tài. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ. NGUỒN SỬ LIỆU, ĐỐI TƯỢNG. Nguồn tài liệu. Đối tượng nghiên cứu.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN. Về mặt khoa học. Ý nghĩa thực tiễn.
BỐ CỤC LUẬN VĂN. 23 VIỆT NAM VÀ CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG NAM Á TRONG CHIẾN TRANH LẠNH. Nhân tố Việt Nam trong quan hệ Liên Xô – Trung Quốc. Việt Nam trong mối quan hệ tam giác Việt Nam – Liên Xô – Trung Quốc giai đoạn 1950 – 1975.
Việt Nam trong nhận thức của Liên Xô và Trung Quốc giai đoạn sau chiến tranh Việt Nam 1975. 42 VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ LIÊN XÔ – TRUNG QUỐC TỪ 1975 – 1979. Quan điểm và chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam sau chiến tranh Việt Nam 1975. Sự hình thành mâu thuẫn Trung – Việt và hai cuộc chiến tranh biên giới của Việt Nam năm 1979.
Việt Nam trong quan hệ Liên Xô – Trung Quốc từ 1975 đến 1979. 78 VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ LIÊN XÔ – TRUNG QUỐC TỪ 1979 – 1991 78 3. “Vấn đề Campuchia” trong nhận thức của Liên Xô giai đoạn 1979 – 1985. “Vấn đề Campuchia” trong nhận thức của Trung Quốc giai đoạn 1979 – 1985.
Việt Nam trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Trung – Xô 1985 – 1991. 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, là ba nước của khối XHCN và cùng nằm ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đây là một khu vực được đánh giá là có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng trong trật tự địa chính trị thế giới.
Là láng giềng của nhau, vì vậy trong suốt chiều dài của lịch sử phát triển của ba nước luôn có sự tác động lẫn nhau. Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, mối quan hệ này có thể là mối quan hệ hỗ tương cùng phát triển, nhưng cũng ít giai đoạn mối quan hệ này trở nên căng thẳng và không ít lần xảy ra chiến tranh, xung đột. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhờ những tương đồng và liên quan mật thiết, ba nước Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam trở thành đồng minh, đồng chí của nhau, cùng nhau vùng lên, hỗ trợ lẫn nhau giành được độc lập. Tuy vậy, như quy luật tất yếu của lịch sử, ba nước vẫn tồn tại không ít những khác biệt trong các chính sách riêng, lợi ích riêng, từ đó đã xảy ra không ít lần xung đột.
Trong mối quan hệ tay ba này, mối quan hệ của Liên Xô – Trung Quốc có rất nhiều thăng trầm cùng với đó là là nhân tố Việt Nam cũng đã có nhiều sự ảnh hưởng đến mối quan hệ thăng trầm. Trong đó, nhân tố Việt Nam đã không ít lần, trở thành một nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp lên mối quan hệ Liên Xô – Trung Quốc. Nghiên cứu đề tài “Nhân tố Việt Nam trong quan hệ Liên Xô – Trung Quốc giai đoạn 1975-1991” không chỉ đơn thuần về mặt khoa học, mà nó còn là bài học kinh nghiệm, bài học lịch sử để nhân dân, học sinh, giới nghiên cứu lịch sử và tất cả những ai quan tâm đến mối quan hệ quốc tế phức tạp giữa ba nước này có được một góc nhìn sát thực hơn, một cách đánh giá chính xác hơn về một 5 giai đoạn của lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới liên quan đến giai đoạn phát triển của Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn 1975 - 1991. Từ bài học lịch sử này, các nhà nghiên cứu, giảng dạy lịch sử sẽ xây dựng nên những bài học lịch sử sinh động, bổ ích cũng như cách định hướng tư tưởng cho học sinh, sinh viên có những quan điểm đúng đắn, phù hợp với lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc.
Nghiên cứu cũng đưa lại những bài học trong việc xây dựng chiến lược Việt Nam trong tiến trình hợp tác, phát triển, hướng tới tương lai với các nước láng giềng. Trên đây là những lý do quan trọng để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhân tố Việt Nam trong quan hệ Liên Xô – Trung Quốc giai đoạn 1975 - 1991” của luận văn này. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn tập trung phân tích, đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện về bức tranh ngoại giao của Liên Xô – Trung Quốc khi có nhân tố Việt Nam và “vấn đề Campuchia” hình thành từ những năm cuối của thập niên 70 và kết thúc vào những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, từ đó thấy được thực chất của “vấn đề Campuchia” trong chính sách ngoại giao của Liên Xô và Trung Quốc với các nước trong khu vực đối với Việt Nam. Từ bức tranh toàn cảnh đó, luận văn làm nổi bật những tác động tích cực và tiêu cực lên quan hệ Liên Xô – Trung Quốc khi có nhân tố Việt Nam và nổi bậc lên mối Trung Quốc - Việt Nam trong giai đoạn từ 1975 đến 1991.
Luận văn cũng rút ra những bài học kinh nghiệm, góp một góc nhìn mới về một giai đoạn lịch sử của Việt Nam trong mối quan hệ với các nước trong khu vực, làm phong phú thêm nguồn tư liệu tham khảo cho các hoạt động học tập, nghiên cứu trong các đề tài khác liên quan, tránh lặp lại những hạn chế đã từng 6 gặp phải, cũng như phát huy những mặt tích cực mà Đảng, Nhà nước và nhân dân từng đạt được. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung vào giải quyết các vấn đề chính sau: Phân tích, lý giải, chứng minh những nguyên nhân, hệ quả, các tác động của nhân tố Việt Nam trong mối quan hệ Liên Xô – Trung Quốc cùng với đó “vấn đề Campuchia” lên quan hệ Trung Quốc - Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến 1991 một cách tổng quát, khoa học. Tìm hiểu chủ trương biện pháp của hai nước Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam qua từng giai đoạn và sự tác động của tình hình chính trị khu vực lên mối quan hệ Liên Xô – Trung Quốc. Qua đó, luận văn cố gắng phân tích, đánh giá để rút ra những bài học trong thực tiễn mà Việt Nam đã trãi qua và những giải pháp mà Việt Nam đã thực hiện nhằm đảm bảo lợi ích của mình trong quan hệ tay ba, cũng như trong nhiều mối quan hệ chằng chéo khác: song phương, đa phương, quan hệ giữa các nước lớn, quan hệ giữa các nước lớn với các nước nhỏ… trong quan hệ quốc tế.
Phân tích những cơ hội và thách thức mà Việt Nam đã đạt được và chưa đạt được qua cuộc đấu tranh đầy cam go này. Phân tích các mặt của chính sách đối ngoại để thấy đâu là những lợi ích trước mắt và đâu là những lợi ích lâu dài của đất nước. Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Việt Nam cần ưu tiên mặt nào nhiều hơn, cách để Việt Nam cân bằng các mối quan hệ nhằm đạt được mục đích và hiệu quả tốt nhất của đất nước. Trên cơ sở lý luận và thực tế; các số liệu được sưu tầm, chỉnh lý, bổ sung của luận văn giai đoạn 1975-1991, để dự báo sự phát triển của mối quan hệ trong tương lai và mối quan hệ này sẽ tiếp tục tác động như thế nào đến Việt Nam trong các mối quan hệ quốc tế.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Những nghiên cứu trong nước Có thể nói xung quanh “nhân tố Việt Nam trong quan hệ Liên Xô – Trung Quốc giai đoạn 1975 -1991” cũng như mối quan hệ tam giác Liên Xô - Việt Nam – Trung Quốc đã có rất nhiều tác phẩm của nhiều tác giả được công bố. Không chỉ từ phía Việt Nam, ở hầu hết các bên liên quan đều có những nghiên cứu đánh giá trên quan điểm riêng của mình. Thành phần nghiên cứu và công bố các công trình nghiên cứu tương đối đa dạng. Đó có thể là những người lính, người dân từng sống và làm việc ở ba nước trong giai đoạn lịch sử này, những nhà chính trị, quân sự, ngoại giao…đã từng đấu tranh cho độc lập và hòa bình của mỗi nước.
Trước những hành động lôi kéo từ phía Trung Quốc và Liên Xô cùng với đó là những cuộc đối đầu đầy cam go trên bàn thương lượng ngoại giao tưởng chừng như không còn lối thoát, những mối quan hệ chằng chịt, chồng chéo, liên quan với nhau, tác động lẫn nhau theo sự phát triển thăng trầm của lịch sử…đã được những nhà nghiên cứu này miêu tả tỉ mỉ, đa dạng qua các tác phẩm của mình. Ngoài ra còn phải kể đến một đội ngũ đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà phân tích, đánh giá, các vấn đề quan hệ quốc tế đã được công bố gần đây cũng góp một phần tư liệu quý giá để nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn vấn đề đặt ra. Chia theo lập trường, quan điểm và nguồn gốc xuất xứ, tác giả phân loại các tác phẩm liên quan tới đề tài theo các mảng sau: Trước hết là các tác phẩm nghiên cứu của các tác giả Việt Nam. Với tư cách là một bên liên quan trực tiếp đến các vấn đề của đề tài này, ngay từ đầu, các học giả Việt Nam đã có những báo cáo, nghiên cứu, góp phần quan trọng trong việc định hình tư tưởng, quan điểm, đường lối của Việt Nam, trong chính sách quan hệ ngoại giao của phía Việt Nam đối với Liên Xô và Trung Quốc cũng như tố cáo sự tàn bạo, những tội ác của chế độ Khmer đỏ, tập đoàn diệt chủng Pol Pot, cũng như chính sách hai mặt của các nhà cầm quyền Trung Quốc - nước đã hà hơi 8 tiếp sức trực tiếp hoặc gián tiếp cho Pol Pot, gây nên thảm họa khủng khiếp ở Campuchia giai đoạn 1975-1979.
Những nghiên cứu này cũng chỉ ra đường lối ngoại giao thâm độc Bắc Kinh khi đã sử dụng lực lượng Pol Pot như một phương tiện để gia tăng ảnh hưởng của mình ở Đông Nam Á cũng như gây sức ép lên Việt Nam giai đoạn 1979 - 1991. Từ đây, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những ảnh hưởng của “vấn đề Campuchia” lên quan hệ Trung Quốc - Việt Nam trong cùng thời kỳ và quá trình bình thường hóa quan hệ của Việt Nam đối với các nước trong khu vực.