phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Khu vực Trung Đông và vai trò đối với Mĩ từ đầu thế kỷ XXI đến nay. Trong chƣơng 1 tác giả trình bày hai vấn đề cơ bản bao gồm: Khái quát về khu vực Trung Đông, trong đó trình bày các vấn đề về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội cũng nhƣ lịch sử lâu đời của khu vực; Vai trò của Trung Đông đối với Mĩ bao gồm những ích lợi mà Trung Đông mang lại cho Mĩ. Chính sách đối ngoại của Mĩ đối với khu vực Trung Đông từ đầu thế kỷ XXI đến nay.
Trong chƣơng 2 tác giả trình bày hai vấn đề chính bao gồm chính sách của Mĩ đối với Trung Đông về mặt kinh tế và xã hội, mà biểu hiện là mối quan hệ giữa Mĩ và Trung Đông. Những hệ quả từ chính sách đối ngoại của Mĩ. Chƣơng 3 tác giả đi sâu vào phân tích những tác động từ chính sách đối ngoại của Mĩ đối với khu vực Trung Đông. Trong đó có những hệ quả đối với khu vực Trung Đông, hệ quả đối với Mĩ và những hệ lụy đối với tình hình thế giới.
8 CHƢƠNG 1 KHU VỰC TRUNG ĐÔNG VÀ VAI TRÕ ĐỐI VỚI MĨ TỪ ĐẦU THẾ KỈ XXI ĐẾN NAY 1.1 Khái quát về khu vực Trung Đông 1.1 Đặc điểm tự nhiên - Khái niệm “khu vực”: Khu vực là “một đơn vị địa lí sinh thái”, được giới hạn bằng ranh giới địa lí tự nhiên, trong đó các quốc gia, dân tộc sinh sống và giữa họ sẳn có các mối quan hệ xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị mang tính chất truyền thống. Nhƣ vậy, khu vực đƣợc hình thành dựa trên các yếu tố chung về địa lí sinh thái tự nhiên trong đó các dân tộc, các địa phƣơng có mối quan hệ truyền thống với nhau tạo thành một hệ thống xã hội có tính đặc trƣng của khu vực. Đặc biệt là khi những quốc gia nằm trong một khu vực cùng nhau hình thành cơ chế hợp tác, lập nên một tổ chức chung thì tính khu vực ngày càng đƣợc biểu hiện. Vị trí địa lí khu vực Trung Đông: Có nhiều thuật ngữ đƣợc sử dụng để gọi tên vùng đất này, nên có nhiều cách diễn tả những đặc trƣng về văn hóa và địa lý có thể bị chồng chéo, và mỗi cách xác định có thể loại trừ những khu vực khác nhau.
Tuy nhiên trong công trình nghiên cứu này dựa trên quan niệm đƣợc đƣa ra trong Đề án thúc đẩy hợp tác của nƣớc ta với Trung Đông. Theo đề án này thì khu vực Trung Đông bao gồm 16 nƣớc Tây Á, trong đó có 12 nƣớc Arập xêút, Irắc, các Tiểu vƣơng quốc Arập Thống nhất (UAE), Gioócđani, Xiri, Libăng, Côoét, Cata, Ôman, Baranh, Yêmen, Palextin và 4 nƣớc không phải Arập là Iran, Ixraen, Thổ Nhĩ Kỳ và Síp, với tổng diện tích khoảng 6 triệu km2 và dân số trên 260 triệu ngƣời. Khu vực Trung Đông là ngã ba thông thƣơng nối liền ba châu lục Á – Âu – Phi, bao gồm tất cả các nền văn hóa của khu vực Địa Trung Hải. Phía Đông Trung Đông giáp với Châu Á, phía Tây giáp với Châu Phi, phía 9 Bắc giáp với châu Âu, phía Nam giáp với một phần châu Phi và Ấn Độ Dƣơng.
Rất nhiều con đƣờng đã đƣợc hình thành từ các đây 5000 năm với sự giao thƣơng của nhiều tộc ngƣời buôn bán hàng hóa qua đây, tạo nên sự giao thoa lớn về kinh tế, văn hóa, chính trị của khu vực này. Bản đồ các nƣớc khu vực Trung Đông Nguồn: http://iames.vn/iames Dân số khu vực Trung Đông hiện nay khoảng 380 triệu ngƣời, trong đó Iran là quốc gia có dân số cao nhất, gần 70 triệu ngƣời; hai quốc gia có số dân ít nhất là Baranh và Cata, mỗi nƣớc dƣới 1 triệu ngƣời. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên trung bình của Trung Đông là 1,9%/năm.1: Diện tích và dân số các nƣớc Trung Đông – Bắc Phi năm 2005 Nƣớc Diện tích Dân số Mật độ dân số Angiêri 2,380,000 32,930,01 13.2 Thổ Nhĩ Kỳ 780,000 70,413,958 85.gov 11 Trung Đông là khu vực có tốc độ tăng dân số tƣơng đối nhanh, lực lƣợng lao động trẻ, nhƣng tỉ lệ tham gia của nữ giới trong thị trƣờng lao động thì rất thấp. Trung Đông bao gồm nhiều sắc tộc khác nhau, chủ yếu là ngƣời Arập, ngoại trừ Iran, Ixraen và Thổ Nhĩ Kỳ.
Các nhóm ngôn ngữ chính của Trung Đông bao gồm tiếng Arập, tiếng Assyri, tiếng Hebrew, tiếng Ba Tƣ, tiếng Kurl và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Là một khu vực có sự đa dạng về tôn giáo. Hầu hết ngƣời Trung Đông theo đạo Hồi, một trong những tôn giáo chính của nhiều nƣớc Trung Đông, trừ Iraen và Palextin. Tuy nhiên trong đạo Hồi cũng phân chia nhiều giáo phái khác nhau.
Ngoài Hồi giáo vẫn có một số tôn giáo khác cũng tồn tại và cơ bản có hai tôn giáo là Do Thái giáo và Ki Tô giáo. Trung Đông là khu vực giàu có về tài nguyên thiên nhiên, nổi bật là dầu mỏ - nguồn vàng đen chiếm vị trí chi phối nền kinh tế khu vực. Năm 2009, trữ lƣợng dầu mỏ của Trung Đông đã chiếm 65% trữ lƣợng dầu mỏ toàn thế giới. Tuy nhiên, trữ lƣợng dầu không đồng đều nhau giữa các nƣớc trong khu vực.
Sự phân phối không đồng đều giữa các quốc gia giàu có dầu mỏ nhƣng dân số ít và các quốc gia lƣợng dầu ít nhƣng đông dân dẫn đến khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Trữ lƣợng khai thác khí đốt của Trung Đông cũng chiếm một vị trí khá cao, khoảng 14,7% tổng sản lƣợng khai thác khí đốt trên toàn cầu. Ngoài dầu lửa và khí đốt, Trung Đông còn có một số tài nguyên khác nhƣ than đá, nhôm và thép, quy mô sản xuất với mức độ trung bình. Nhìn chung khu vực Trung Đông có điều kiện tự nhiên tƣơng đối phức tạp.
Chính địa hình phức tạp đã tạo nên điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nhƣng bù lại, Trung Đông đƣợc thiên nhiên phú cho những mỏ dầu khổng lồ để phát triển kinh tế.2 Lịch sử hình thành và phát triển Trung Đông có lịch sử từ lâu đời, từng là nơi sinh ra các nhà nƣớc cổ đại, là trung tâm tôn giáo của đạo Hồi, đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa. Đây là vùng đất từng trải qua các giai đoạn bạo lực và khoan dung. Thế kỷ XX, Trung Đông trở thành một trung tâm của các sự kiện quốc tế. Về mặt chiến lƣợc, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, đây là một khu vực rất nhạy cảm.
Những sự kiện nóng bỏng của khu vực Trung Đông trong quá khứ và hiện tại đã thực sự khiến chúng ta phải chú tâm đến lịch sử của nó [9, 25]. Trung Đông thời cổ đại vào khoảng 10000 năm TCN, mốc đánh dấu là sự xuất hiện định cƣ của con ngƣời ở vùng bờ cực Đông Địa Trung Hải và vùng trung du phía Tây gần đó. Một sự thay đổi lớn nhƣ “một cuộc cách mạng”, diễn ra vào khoảng thiên niên kỷ 9 TCN với việc hình thành nghề nông. Một bƣớc tiến quan trọng nữa trong nông nghiệp là phát triển tƣới tiêu có tổ chức và sử dụng lực lƣợng lao động chuyên biệt, bởi những ngƣời Sumer (khoảng 5.
Cũng trong thời gian này công cụ đồ đồng và đồ sắt ra đời thay thế cho công cụ đá thô sơ, nó trở thành công cụ nông nghiệp và phƣơng tiện chiến tranh. Trung Đông thời kỳ cổ đại chính là thời điểm Cơ Đốc giáo và Hồi giáo ra đời (khoảng thế kỷ VI TCN). Trung Đông cổ đại gắn liền với hai nền văn minh cổ đại đầu tiên xuất hiện sớm nhất trong lịch sử xã hội loài ngƣời đã đƣợc nhân loại biết đến với hai tên gọi Ai Cập và Lƣỡng Hà cổ đại. Lịch sử hai nhà nƣớc này mang lại nhiều kiến thức quý giá về thế giới cổ đại ở Trung Đông.
Thời kỳ Arập ở Trung Đông là thời kỳ thống trị của đạo Hồi tại đây. Sự kiện đánh dấu quyết định là việc hình thành Trung Đông với tƣ cách là một vùng văn hóa riêng biệt là sự trổi dậy của Hồi giáo tại Bán đảo Arập do nhà tiên tri Mohammed sáng lập. Đầu thế kỷ VII, nhiều đạo quân Hồi giáo 13 Arập tiến vào các xứ sở lân cận, khởi đầu cho một làn sóng bành trƣớng kéo dài gần 100 năm thôn tính gần nhƣ toàn bộ khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Bản đồ chính trị Trung Đông đƣợc vẽ lại khi Tân đế quốc Hồi giáo thiết lập quyền cai trị trên các lãnh thổ trải dài từ Tây Ban Nha đến Trung Á.
Lúc đầu, những kẻ chinh phục là thiểu số cai trị các xứ sở không theo đạo Hồi, nhƣng dần dần họ đã tạo nên những thay đổi quan trọng làm biến dạng những đặc điểm và vận mệnh của toàn khu vực. Ngƣời Arập đem theo một tôn giáo mới lập là đạo Hồi vào Trung Đông. Họ không ép những ngƣời cƣ dân tại vùng lãnh thổ mới bị thôn tính (hầu hết là Thiên Chúa giáo) theo Hồi giáo. Tuy nhiên, ngƣời Hồi giáo giành nhiều đặc quyền kinh tế và xã hội cho ngƣời theo đạo Hồi.
Trung Đông Hồi giáo giai đoạn (945 – 1500) là giai đoạn kể từ khi đế chế Abbasid sụp đổ vào thế kỷ X, đến thời kỳ khôi phục vƣơng quyền dƣới triều Ôttôman vào thế kỷ XVI, vùng Trung Đông và Bắc Phi đã mất sự thống nhất chính trị. Hàng chục triều đại thành lập rồi tiêu vong, ranh giới giữa các nƣớc liên tục thay đổi. Tuy nhiên, sự phân định chính trị sâu rộng đã hình thành tại một số lãnh thổ: Iran, Irắc, Xiri và Bắc Phi. Xuất hiện thêm vùng Tiểu Á, ban đầu thuộc quyền cai trị của Hồi giáo, nhƣng sau phát triển thành một thực thể chính trị riêng biệt, gắn với vùng Baicăng mới chinh phục trong thời kỳ bành trƣớng vƣơng quốc Ôttôman.
Đầu thế kỉ XV, vào thời gian này một quyền lực mới nổi dậy ở phía tây Tiểu Á là các hoàng đế Ôttôman, họ là những ngƣời đã chiếm Constantinople năm 1453 và tự phong mình làm các Khalip. Tiếp đó, những ngƣời Ôttôman đã thống nhất toàn khu vực và cai trị, họ giữ quyền kiểm soát trong hơn 400 năm. Đế chế Ôttôman trở thành cƣờng quốc khu vực dù rằng Iranlúc bấy giờ vẫn là đối trọng đáng kể, các cuộc mâu thuẫn xung đột vẫn thƣờng xuyên diễn ra giữa hai nƣớc. Những thập niên cuối thế kỷ XVIII đế chế Ôttôman trở nên suy yếu và bị các cƣờng quốc 14 châu Âu nhƣ Anh, Pháp chiếm đóng và biến thành thuộc địa của các nƣớc châu Âu.