Mở đầu thế kỷ XXI, không cần điều tra xác minh kẻ nào là thủ phạm thực hiện vụ tấn công Tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại quốc tế ở New 20 York (11/09/2001), Tổng thống Mỹ George W. Bush phát động cuộc chiến tranh toàn cầu chống khủng bố ở Afghanistan kéo dài gần 20 năm. Tiếp đến, Mỹ phát động cuộc chiến tranh Iraq - một cuộc chiến không chỉ bị Nga và Trung Quốc mà ca các đồng minh của Mỹ trong NATO là Pháp va Đức phản đối. Năm 2011, Mỹ đứng đầu NATO kích động các biến động chính trị mang tên “Mùa Xuân Arab” ở Trung Đông - Bắc Phi, dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược Libya dé tiêu diệt nha lãnh dao Muammar Gaddafi.
“Mùa Xuân Arab” còn dẫn tới cuộc chiến tranh Syria kéo đài tới nay chưa thé kết thúc do sự cạnh tranh địa - chính tri giữa Mỹ và NATO với Nga, Th6é Nhĩ Kỳ, Iran và Israel. “Mùa Xuân Arab” còn dẫn tới cuộc chiến tranh ở Mali (2012) va chién tranh Yemen (2015). Nam 2020, canh tranh dia - chính trị còn dẫn tới chiến tranh giữa Azerbaijan va Armenia liên quan tới tranh chấp ở Nagorno - Karabakh. Chuỗi dài các cuộc chiến tranh từ Afghanistan tới Trung Đông khiến Mỹ phải tiêu tốn gần 6.000 tỷ USD [Phạm Nghĩa, 2021, tr.
Đây là một trong những nguyên nhân đưa Mỹ lâm vào cuộc khủng hoảng hệ thống, cả đối nội và đối ngoại. Về đối nội, cuộc khủng hoảng năm 2008 là cuộc khủng hoảng lần thứ hai của mô hình chủ nghĩa tư bản tài chính dựa trên cơ sở vị thế độc tôn của đồng đô la Mỹ (USD) trong nên kinh tế toàn cầu được bảo đảm bằng dầu mỏ, tiếp theo cuộc khủng hoảng lần thứ nhất vào đầu những năm 1970. Sau khi lên cam quyền vào năm 2017, Tổng thống Donald Trump quay trở lại con đường của chủ nghĩa tư bản công nghiệp để làm cho nước Mỹ “vĩ đại trở lại” và trở thành cường quốc công nghiệp số 1 thế giới trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4. Năm 2020, ông Joe Biden đã giành chiến thắng trước ông Donald Trump và trở thành Tổng thống.
Để thay thé trật tự thé giới đơn cực dang sụp đồ, Tổng thống đắc ctr Joe Biden chu trương sẽ tô chức Hội nghị thượng đỉnh vì dân chủ toàn cầu vào năm 2021 21 dé tập hợp tat cả các quốc gia dân chủ trên toàn thế giới đưới ngọn cờ của Mỹ dé chống lại chủ nghĩa độc tài và chủ nghĩa dân tộc và thiết lập trật tự thế giới mới. và Trung Quốc, ké từ năm 2008, tận dụng những sai lầm chiến lược của giới cam quyền Mỹ cả trong chính sách đối nội và đối ngoại, Trung Quốc đã vươn lên mạnh mẽ trở thành một hiện tượng hiếm có trong lịch sử kinh tế - chính trị thế giới. Từ một quốc gia đang phát triển ở mức thấp, Trung Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, chỉ đứng sau Mỹ. Trung Quốc coi cuộc khủng hoảng ở Mỹ năm 2008 là dấu hiệu chấm dứt vị thế siêu cường duy nhất của Hoa Kỳ và là cơ hội lịch sử của Trung Quốc.
Chính vì thế, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Câm Đào đã từ chối đề nghị của Tổng thống Obama hình thành Nhóm G2 để quản trị thế giới. Với chương trình “Made in China 2025” và Sáng kiến “Vành đai và Con đường” mà Trung Quốc theo đuôi, quốc gia này sẽ xây dựng trật tự thế giới mới do Trung Quốc dẫn dắt. Đối với Nga, qua hơn hai thập kỷ cầm quyền ké từ năm 2000, trong điều kiện bị bao vây và cắm vận, Tổng thống Putin đã đưa nước Nga thoát khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện. Nước Nga đã hồi sinh và trở thành cường quốc mới có ảnh hưởng ngày càng lớn trên thế giới.
Về kinh tế, Nga đã xác định rõ con đường phát triển theo mô hình kinh tế thị trường, năm 2020, GDP của Nga được xếp vị trí thứ 11 thế giới [Thanh Thế, 2021, tr. Về quân sự, Nga hoàn thành cải cách quân đội, tái lập thế cân băng chiến lược với Mỹ băng nhiều loại vũ khí độc nhất vô nhị có khả năng đáp trả bất kỳ hành động xâm lược nào theo mọi phương thức. Theo các chuyên gia, sự thăng trầm của các cường quốc hàng đầu đang dẫn tới quá trình tái cấu trúc trật tự thế giới. Theo đó, trật tự thế giới đơn cực đứng trước nguy cơ sụp đồ và hình thành trật tự thế giới đa cực, đa 22 trung tâm.
Đứng trước nguy cơ đó, Mỹ ra sức ngăn chặn sự sụp đồ trật tự thế giới đơn cực do họ kiểm soát; Trung Quốc toan tính xây dựng trật tự thế giới “cùng chung vận mệnh” mà thực chất là xây dựng trật tự thế giới “theo sự đồng thuận Bắc Kinh”; Nga không chấp nhận trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo và đấu tranh để được các cường quốc công nhận là thành viên bình dang trong cục diện chính trị toàn cầu. Còn Liên minh châu Âu (EU) vẫn chưa sẵn sàng đóng vai trò mới trong kỷ nguyên cạnh tranh quyền lực giữa các cường quốc mà chỉ đang thực hiện những bước đi đầu tiên nhằm thoát khỏi chiếc 6 an ninh của Mỹ [ Lê Thế Mẫu, 2021, tr. Tình hình Mỹ Latinh có nhiều diễn biến phức tạp. Sau quãng thời gian “sóng yên bể lặng” trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia ở khu vực Mỹ Latinh, quan hệ giữa Mỹ với một số nước trong khu vực xấu đi nhanh chóng.
Đó là thời kỳ phong trào cánh tả Mỹ Latinh có xu hướng nở rộ dưới sự dẫn dắt của hai người “anh cả” ở khu vực là Cuba và Venezuela (tại Cuba là Chủ tịch Fidel Castro, trong khi đó ở Venezuela là Tổng thống Hugo Chavez). Thời kỳ này chứng kiến một loạt các nước đi theo cánh tả ở khu vực Mỹ Latinh ra đời và phát triển mạnh như Nicaragua, Argentina, Brazil. Chính điều này đã khiến Mỹ lo ngại về sự bất ôn đối với khu vực địa bàn “sân sau” của mình. Tại Venezuela, dưới sự điều hành của Tổng thống Hugo Chavez, chủ trương, chính sách của Venezuela đều mang tính đối lập so với chính sách của những đời Tổng thống Venezuela trước đó và xung đột với lợi ích của Mỹ.
Chính vi điều đó, mà phía Mỹ luôn đặt mục tiêu xóa bỏ các nước cánh tả ở khu vực dé thành lập lên chính phủ mới thân Mỹ, tập trung nguồn lực thực hiện các mục tiêu chiến lược ở các địa bàn trọng yếu trên thế gidi. Sau thời kỳ hoàng kim của hang loạt nước đi theo đường lối cánh tả, cho đến năm 2020, phòng trào cánh tả tại khu vực Mỹ Latinh có xu hướng 23 thoái trào bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyễn nhân cốt lõi nhất là do công tác điều hành, quan lý yếu kém của các chính phủ cánh tả, dẫn đến niềm tin của người dân suy giảm. Các nước đầu tàu đại diện cho phe cánh tả ở khu vực Mỹ Latinh như Cuba, Venezuela, Nicaragua liên tục gặp khó khăn về kinh tế bởi các biện pháp bao vây, trừng phạt kinh tế của Mỹ/phương Tây và tác động của đại dịch Covid-19. Cac nước cánh hữu ở khu vực dan lấy lại vị thế và đưa đất nước phát triển trở lại.
Do đó, Mỹ đã tận dụng cơ hội, triển khai các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu xóa bỏ phong trào cánh tả ở khu vực. Đến thời kỳ Tổng thống Joe Biden, mặc dù chính sách đối ngoại của Mỹ van là ưu tiên khu vực An Độ Dương - Thái Bình Dương nhằm ngăn chặn, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng Mỹ vẫn quan tâm đến địa bàn Mỹ Latinh khi có cơ hội dé lật đỗ các đảng cánh tả ở khu vực, nhất là tại Cuba và Venezuela. Sự cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực Mỹ Latinh (Trung Quốc, Liên bang Nga) Mỹ Latinh nói chung và Venezuela nói riêng là “điểm đến đây hứa hen” của các nước lớn: Với vị trí địa - chính trị, kinh tế quan trọng, Mỹ Latinh vốn được coi là “sân sau” của Mỹ, nhưng giờ đây đã không còn là lãnh địa riêng của Mỹ mà đã thành điểm địa bàn quan trọng trong chính sách đối ngoại của các nước lớn khác như Trung Quốc, Nga. Điều này thê hiện rõ nét là chỉ trong vòng một tháng (7.2014), các nhà lãnh đạo 2 nước lớn gồm Tổng thống Nga Putin, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dồn dập đến thăm Mỹ Latinh, mang theo nhiều hợp đồng, cam kết với các nước trong khu vực.
Với Trung Quốc: Trong chuyến công du Mỹ Latinh kéo dài 10 ngày (17-26/07/2014) của Chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc đã ký 56 thỏa thuận hợp tác với Brazil, 20 thỏa thuận với Argentina, 38 thỏa thuận với 24 Venezuela và 29 thỏa thuận với Cuba [Mộc Thạch, 2015, tr. 4], thuộc các [ĩnh vực năng lượng, dầu khí, thương mại, tài chính, ngân hàng, hạ tầng, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học và công nghệ, khai khoáng, quốc phòng, viễn thông, y tế, văn hóa và giáo dục. Trong chuyến thăm này, Trung Quốc quyết định thành lập quỹ đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở Mỹ Latinh với tri giá 20 tỷ USD [ Mộc Thạch, 2015, tr. Hiện tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ Latinh đang tăng nhanh, từ 13 tỷ USD năm 2000 lên mức 261 tỷ USD năm 2013 [Thông tấn xã việt Nam, 2014|, con số này đã đưa Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn thứ 2 của khu vực này.
Đối với Venezuela, Trung Quốc đã đầu tư khoảng 790 dự án, trong đó đã cho Venezuela vay các khoản tài chính không lồ. Trong 10 năm từ 2009-2019, Trung Quốc rót vào Venezuela khoảng 62 tỷ USD, chiếm 53% tong số tiền đầu tư của nước này vào khu vực Mỹ Latinh [Minh Hùng, 2019, tr 5]. Ngoài ra, Trung Quốc vẫn đang cho Chính quyền Venezuela vay khoảng 25 tỷ USD và nhiều lần gia hạn các khoản nợ cho Chính quyền Maduro. Trung Quốc kỳ vọng Venezuela sẽ là điểm đầu tiên, là “cánh tay nối đài” của Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) ở Mỹ Latinh.
Hợp tác giữa hai bên còn góp phần giúp Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng địa - chính trị ở khu vực Mỹ Latinh, vốn được cho là “sân sau” của Mỹ. Như vậy, với hơn 600 triệu dân và nguồn tài nguyên dồi dào, nền kinh tế tăng trưởng tương đối ôn định, Mỹ Latinh ngày càng thu hút sự quan tâm từ Trung Quốc - nước đang khát nhiên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa dé duy trì tốc độ phát triển kinh tế.