đặt vấn đề an ninh quân sự lên hàng đầu. Đặc biệt, với chiến lược an ninh mới này, Mỹ đã ưu tiên cho mục tiêu tăng cường và tìm kiếm đồng minh, cải thiện quan hệ với nhiều quốc gia trong đó có Pakistan. Nhìn chung, công trình này mới chỉ dừng lại ở việc xem xét bối cảnh nước Mỹ trong năm đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là sự chuyển biến của những ưu tiên và phương thức đối ngoại và an ninh của Washington sau ngày 11/9. Những điều chỉnh cụ thể hơn có tác động đến quan hệ Mỹ - Pakistan không được đề cập đến.
“Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại 1945-2000” (2008) của Trần Nam Tiến [16] là công trình khái quát bức tranh lịch sử quan hệ quốc tế từ sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1947), Chiến tranh Lạnh và sự đối đầu hai cực Xô-Mỹ và hai khối Đông-Tây, đến khi trật tự thế giới hai cực Yalta sụp đổ (1985 - 1991) và sự hình thành trật tự thế giới mới (1991-2000) với những quan hệ quốc tế mới. Sự liên tục của lịch sử quan hệ quốc tế được tác giả đưa ra giúp hình dung một cách rõ ràng về bối cảnh của thế giới sau Chiến tranh Lạnh, những biến đổi so với giai đoạn trước, xu hướng quốc tế và đặc biệt là vai trò của nước Mỹ trong trật tự thế giới mới đó. Các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến quan hệ giữa Mỹ và Pakistan sau Chiến tranh Lạnh Các công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến quan hệ Mỹ - Pakistan nói chung còn khá hiếm. Chủ yếu mối quan hệ này được lồng ghép qua những nghiên cứu liên quan đến chính sách chống khủng bố của Mỹ và quan hệ quốc tế của nước này sau ngày 11/9.
Có thể kể đến một nghiên cứu đáng chú ý liên quan đến chủ đề này là “Quan hệ đối tác chiến lƣợc trong quan hệ quốc tế: từ lý thuyết đến thực tiễn” (2006) của Nguyễn Vũ Tùng và Hoàng Anh Tuấn [19]. Ở góc độ nghiên cứu tính chất ―đối tác chiến lược‖ của quan hệ Mỹ và Pakistan, các tác giả đã có đề cập đến lịch sử phát triển, các lĩnh vực hợp tác chiến lược cụ thể, thành công và những hạn chế của mối liên minh chiến lược này. Lịch sử phát triển của quan hệ ―đối tác chiến lược‖ Mỹ - Pakistan đã được phản ánh tương đối rõ ràng và đầy đủ kể từ khi hai nước bắt đầu thiết lập liên minh năm 1954 (cùng ký hiệp ước thành lập SEATO) cho đến suốt giai đoạn Chiến tranh Lạnh, và đặc biệt được củng cố trở lại sau ngày 11/9. Những yếu tố chiến lược kết nối sự hợp tác giữa hai nước sau ngày 11/9 được cho là: cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ ở Afganistan, hợp tác chống Al Qaeda và Chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, và vấn đề Kashmir.
Mặc dù vậy, vì tiếp cận của nghiên cứu là xem xét mối quan hệ Mỹ - Pakistan như một trường hợp của quan hệ ―đối tác chiến lược‖, nên bức tranh quan hệ Mỹ - Pakistan chưa được phản ánh một cách toàn diện, mà chỉ cho thấy một phần mối quan hệ từ góc độ chính trị chiến lược. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Những nghiên cứu ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án khá phong phú, bao gồm những chủ đề chính sau: 1. Những công trình đề cập đến bối cảnh thế giới và nước Mỹ sau Chiến tranh Lạnh “U. Foreign Policy after the Cold War” (1997) của Randall B.Ripley và James M.Lindsay [134] là nghiên cứu về tình hình quốc tế và nước Mỹ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, những điều chỉnh chính sách và sự thay đổi trong các cơ 17 z quan đầu não của Mỹ như Hội đồng An ninh quốc gia, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Cơ quan tình báo Trung ương.
Mục đích của nghiên cứu là trả lời các câu hỏi: sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đại bộ phận những chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng tan biến, vậy điều gì đã xảy ra với chính sách đối ngoại của Mỹ trong giai đoạn mới này, nội dung của chính sách mới và những cơ cấu, tiến trình của các bộ máy xây dựng chính sách có sự thay đổi như thế nào và mang lại những tác động gì, vai trò lãnh đạo của hai tổng thống Bush cha và Clinton có tác động gì đến sự thay đổi này? Thông qua nghiên cứu, Randall B.Ripley và James M.Lindsay đã chỉ ra rằng kết thúc Chiến tranh Lạnh, dù ―các vấn đề giảm đi‖, môi trường thay đổi và trở nên bất định, sự thay đổi nhanh về cơ cấu và thực chất của chính sách đối ngoại Mỹ đã không diễn ra như dự kiến. Gần như phần lớn thập kỷ 1990, ―các thể chế chính sách đối ngoại của Mỹ ở mức độ lớn vẫn phản chiếu những đòi hỏi của Chiến tranh Lạnh. Các ngân sách và bộ máy viên chức ngoại giao vẫn phản ánh thực tiễn của một thế giới đã trôi qua‖. Nguyên nhân của tình hình này được cho là do sự thiếu lãnh đạo chính trị hoặc sự quan tâm của Tổng thống, bộ máy viên chức về chính sách đối ngoại, Quốc hội và công chúng.
Các tác giả cho rằng bản thân nước Mỹ cũng rối mù và thiếu chắc chắn trong việc xác định vị thế của mình trên thế giới, và nếu không có một thách thức hoặc một đe dọa nào từ bên ngoài thì hệ thống chính trị Mỹ khó có thể tạo ra một cách nhìn toàn diện về chính sách đối ngoại. Tóm lại, gần một thập kỷ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, và có lẽ là đến ngày 11/9/2001, là thời kỳ mà chính sách đối ngoại Mỹ vẫn mang đậm dấu ấn của giai đoạn trước đó và thiếu một sự thích ứng và thay đổi rõ ràng. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định bối cảnh của những quan hệ mà nước Mỹ tiến hành trong giai đoạn này. Trong “American Foreign Policy: the dynamics of choice in the 21th century” (2000) [81], khi bàn về động cơ của sự lựa chọn chính sách đối ngoại trong thế kỷ XXI của Mỹ, Bruce W.Jentleson cũng đã đề cập đến những cơ sở lý luận và lịch sử nhằm xây dựng khuôn khổ cho động cơ của sự lựa chọn này và việc áp dụng khuôn khổ này vào chương trình nghị sự đối ngoại thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh cùng những lựa chọn của nước Mỹ bên thềm thế kỷ XXI.
Những nội dung mà 18 z tác giả đề cập đến ít nhiều liên quan đến chủ đề luận án là bối cảnh chiến lược sau Chiến tranh Lạnh xuất phát điểm của những lựa chọn chính sách đối ngoại Mỹ. Đó là thời kỳ mà nước Mỹ vẫn luôn đề cao việc phát huy vai trò quan trọng của mình trên thế giới dù kẻ thù chính của Mỹ là Liên Xô đã sụp đổ. Nguyên nhân của thực tế này là do: Mỹ vẫn phải đối mặt với những thách thức an ninh quốc gia tiềm tàng thời kỳ hậu Xô viết như sự nổi lên của một đối thủ tương lai hay nguy cơ chiến tranh tại những khu vực mà nước Mỹ có lợi ích sống còn và những cam kết lâu dài với đồng minh; sự quốc tế hóa của nền kinh tế Mỹ; sự quốc tế hóa của những vấn đề thuộc về ―đối nội‖ như môi trường, ma túy.; trách nhiệm của nước Mỹ trong việc đảm bảo những giá trị cơ bản dù là ở bên ngoài biên giới. Cũng trong bối cảnh này, lợi ích quốc gia - mục đích chính của mọi chính sách đối ngoại Mỹ từ trước đến nay - đã được tác giả xác định thông qua 4 chữ P: quyền lực (power), hòa bình (peace), thịnh vượng (prosperity) và nguyên tắc (principales).
Ví dụ, để đạt được chữ P đầu tiên là quyền lực, Mỹ phải thực thi những chính sách mang tính cưỡng chế, cơ bản nhất là duy trì lực lượng phòng vệ mạnh và khả năng răn đe đáng tin cậy. Các liên minh được ưu tiên xây dựng nhằm chống lại kẻ thù chung đóng vai trò chủ chốt trong cả chiến lược phòng vệ và răn đe. Với mục tiêu ―hòa bình‖, chính sách đối ngoại Mỹ có xu hướng lựa chọn 2 loại chính sách, thứ nhất là tạo ra những thể chế quốc tế làm cơ sở cho sự ―hợp tác bền vững‖, và thứ hai là nhấn mạnh ―vai trò trung gian‖ mà Mỹ nắm giữ trong các cuộc chiến tranh và xung đột mà Mỹ không trực tiếp liên quan. Chính sách đối ngoại thúc đẩy bởi mục tiêu ―thịnh vượng‖ là xu hướng đặt lợi ích kinh tế lên trên tất cả các mối quan tâm khác.
Mục tiêu thứ tư ―nguyên tắc‖ thì liên quan đến các giá trị, lý tưởng và niềm tin mà người Mỹ tuyên bố ủng hộ trên thế giới. Mục tiêu này trong chính sách đối ngoại Mỹ xuất phát từ quan điểm lý tưởng dân chủ và mục tiêu bảo vệ nền dân chủ đã tồn tại từ khi nước Mỹ ra đời. Ở biểu hiện mạnh mẽ nhất, thuyết lý tưởng dân chủ còn cho rằng củng cố dân chủ là củng cố hòa bình vì các nền dân chủ không gây chiến với nhau. Trong những động cơ đối ngoại của Mỹ, đặc biệt là giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh, có thể thấy bốn P này được thể hiện rõ ràng, ở từng thời điểm mà chúng bổ sung hoặc triệt tiêu lẫn nhau.
Nhìn chung, công trình này bên cạnh việc khắc họa về bối cảnh quốc 19 z tế và bối cảnh nước Mỹ sau Chiến tranh Lạnh, đã tạo cơ sở quan trọng cho việc xem xét, lý giải những yếu tố, động cơ tác động đến việc hoạch định các chính sách đối ngoại của Mỹ trong giai đoạn này. ―US Foreign Policy After the Cold War: Global Hegemon Or Reluctant Sheriff?” (2002) của Fraser Cameron [43] là công trình nghiên cứu khá toàn diện về chính sách đối ngoại của Mỹ giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh qua các đời tổng thống G H.Bush, Bill Clinton và G W. Bức tranh nước Mỹ trong hơn một thập kỷ được khắc họa rõ nét trên nhiều góc độ như chuyển biến của nền chính trị trong nước, truyền thông, thương mại, và đặc biệt là chính sách đối ngoại, những ưu tiên đối ngoại của nước Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh. Tác giả đã nhấn mạnh rằng chưa bao giờ trong lịch sử, nước Mỹ sở hữu sức mạnh quân sự, kinh tế, ảnh hưởng chính trị, năng lực công nghệ và mô hình văn hóa lớn đến vậy.
Trong vị thế mới đó, chính sách đối ngoại của nước Mỹ đã được thể hiện theo cách thức khác trước và phục vụ cho những tham vọng mới của một ―bá quyền‖. Những chính sách của nước Mỹ với chủ nghĩa khủng bố sau ngày 11/9 cũng đã được đề cập đến.