Chương 1 làm rõ các nhân tô khách quan và chủ quan tác động tới quan hệ Mỹ - Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020. Chương 2: Thực trạng quan hệ Mỹ - Việt Nam dưới thời Tổng thống Mỹ Donald Trump (2017-2020) trên các lĩnh vực Chương 2 tập trung nghiên cứu quan hệ Mỹ - Việt Nam trên các lĩnh vực như: Chính trị - ngoại giao, thương mại - đầu tư, quốc phòng - an ninh và các hoạt động viện trợ của Mỹ cho Việt Nam. Chương 3: Nhận xét về quan hệ Mỹ - Việt Nam (2017-2020) và dự báo triển vọng quan hệ hai nước trong thời gian tới Chương 3 đưa ra những đánh giá, nhận xét về quan hệ Mỹ - Việt Nam giai đoạn 2017-2020; dự báo triển vọng quan hệ Mỹ - Việt Nam trong thời gian tỚI. CÁC NHÂN TÓ KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ MỸ - VIỆT NAM 1.
Nhân tố khách quan 1. Đại dịch COVID-19 tác động đến quan hệ quốc tế và quan hệ Mỹ - Việt Nam COVID-19 khởi phát tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, miền Trung Trung Quốc và ca bệnh đầu tiên được phát hiện vào ngày 08 tháng 12 năm 2019, sau đó diễn biến phức tạp với tốc độ lây lan một cách nhanh chóng ra toàn thế giới. Đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, Trung Quốc chính thức thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về bùng phát dịch. Trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh, Tổ chức Y tế Thế giới đã ban bồ tình trang khan cấp toàn cầu (PHEIC) vào ngày 30 tháng 01 năm 2020, rồi sau đó xác nhận đây là “đại dịch toàn cầu” (pademic) vào ngày 11 tháng 3 năm 2020.
Tính đến thời điểm 17h ngày 30 tháng 3 năm 2020, ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thé đã có hơn 735.000 người tử vong. Mỹ trở thành vùng dịch lớn nhất thế giới với tổng số hơn 140.000 trường hợp mắc Covid-19 va hon 2.000 trường hợp tử vong, trong đó, thành phố New York có số ca tử vong nhiều nhất nước Mỹ với hơn 700 ca chiếm khoảng 1/3 nước Mỹ. Tại châu Âu, Italia tiếp tục là vùng dịch lớn nhất với tong số 97.689 ca nhiễm và gần 11.000 ca tử vong, tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2020. Tây Ban Nha là vùng dịch lớn thứ hai châu Âu với 80.110 ca nhiễm và 7.340 ca tử vong.
Tại châu A, Iran tiếp tục là vùng dịch lớn thứ hai, sau Trung Quốc đại lục. Tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2020,, Iran có 38.309 ca nhiễm và 2.640 ca tử vong - một trong những nước có tỷ lệ tử vong cao (7,7%). Hàn Quốc, số liệu đến ngày 29 tháng 3 năm 2020 đã có tổng số ca nhiễm tại nước này lên 9.478 ca nhiễm và 114 ca tử vong. Tại Đông Nam Á, tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2020, Malaysia tiếp tục là vùng dịch lớn nhất khu vực với 2470 ca nhiễm và 35 ca tử vong.
Indonesia với 1285 ca nhiễm và 114 ca tử vong [Trung tâm Thông tin công tác tuyên 12 giáo, 2020]. Trong vòng 3 tháng khởi phát, diễn biến đại dịch COVID-19 có thé được chia làm hai giai đoạn tương đối rõ ràng. Giai đoạn 1 là giai đoạn bùng phát ở Trung Quốc và các nước châu Á lân cận với tâm dịch là Vũ Hán. Giai đoạn 2 diễn ra sau đó, khi Trung Quốc đã qua đỉnh dịch và có dấu hiệu được kiểm soát thì dịch bệnh lại bùng lên nhanh chóng tại châu Âu và Bắc Mỹ.
Rõ ràng, việc Tổ chức Y tế thế giới công bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu sau 3 tháng ké từ khi căn bệnh này xuất hiện đã phản ánh khả năng virus lây lan trên diện rộng về mặt địa lý. Do đó, Tổ chức Y tế thế giới mong muốn tất cả các nước trên thé giới cần có hành động khan cấp và quyết liệt dé kiêm soát tình hình và khống chế sự lây lan của virus. Thực tế, sự bùng phát của COVID-19 đã chi phối mọi khía cạnh đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế giới và buộc con người phải thay đôi cách nhìn nhận, thói quen, lối sống và phương thức làm việc để đảm bảo phòng chống dịch. Tốc độ lây lan và mức độ nguy hiểm của COVID-19 đã làm cuộc song của người dân toàn cầu bị đảo lộn, gây ra những gián đoạn nghiêm trọng cho hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực.
Nổi bật là ảnh hưởng rõ nét nhất đối với lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư. Theo đó, sự xuất hiện của dịch bệnh COVID-19 khiến nhiều nước phải thực hiện giãn cách xã hội, gây ra sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng toàn cầu và gián đoạn hoạt động sản xuất trên thế giới. Từ đó, dẫn đến tình trạng gián đoạn cục bộ, khiến cho đầu vào của sản xuất bị thiếu hụt, lưu thông hàng hóa, dịch vụ và lao động toàn cầu không thé thông suốt và hiệu quả. Đại dịch COVID-19 tác động gần như đồng thời tới toàn bộ các nền kinh tế trên thế giới nhưng theo các cơ chế khác nhau cả về phía cung và phía cầu.
Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc của mỗi nền kinh tế cũng như sự liên kết của nền kinh tế đó với phần còn lại của thế giới. Về phía cung, các biện pháp chống dịch COVID-19 (chủ yếu là cách ly, tạo khoảng cách và hạn chế đi lại) đã khiến nguồn cung lao động giảm mạnh, dẫn tới nhiều hoạt động sản xuất bị ngưng trệ. Đây chính là 13 nguyên nhân trực tiếp khiến chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn và ngưng trệ trong khoảng thời gian triển khai các biện pháp chống dịch COVID-19. Trong đó, có thời điểm Liên minh châu Âu và Mỹ là tâm dịch, khiến sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng toàn cau là điều không thé tránh khỏi, do vai trò của Mỹ và Châu Âu trong chuỗi là vô cùng quan trọng.
Về phía cầu, nếu như ảnh hưởng của dịch COVID-19 tới phía cung có thé được kiểm soát theo tình hình của dịch bệnh, thì những tác động tới phía cầu được xem là khó dự đoán. Có thể kế đến như viện người dân hạn chế đi lại đã khiến lượng người mua hàng hóa bị giảm đột ngột, nhất là tại các trung tâm thương mại, cho dù có sự chuyên hướng nhất định sang mua hàng bằng các hoạt động thương mại điện tử. Ngoài ra, ảnh hưởng của dịch COVID-19 tới tâm lý của tác nhân kinh tế là rất tiêu cực, khiến cho họ có trạng thái tâm lý trì hoãn tiêu dùng và đầu tư (hiện tượng này được bộc lộ rõ trong cuộc suy thoái kinh tế 2007 - 2009) [Đại học Kinh tế quốc dân, 2020]. Việc các nước lần lượt phong tỏa, hạn chế đi lại cũng làm giảm khả năng hợp tác, phối hợp quốc tế trong ứng phó với đại dịch.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, dịch bệnh xuất hiện đầu năm 2020 tạo nên một sự cộng hưởng các yếu tố dẫn đến những biến động sâu rộng trên thị trường hàng hóa và tài chính toàn cầu. Chỉ số chứng khoán của các nền kinh tế lớn Mỹ, Liên minh châu Âu, châu Á liên tục sụt giảm; giá dầu thế giới giảm 26% xuống mức thấp nhất trong 18 năm qua; nhiều ngành kinh tế chủ chốt, trong đó có hàng không chịu thiệt hai nặng; hoạt động sản xuất và dịch vụ tại nhiều nước bị “tê liệt”, có thé làm 25 triệu người mat việc làm [Trung tâm Thông tin công tác tuyên giáo, 2020]. Theo một báo cáo công bố vào năm 2021 của UNCTAD (Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển), nền kinh tế thế giới đã giảm 3,5% trong năm 2020 đối với các nước phát triển là những nước phụ thuộc nhiều vào dịch vụ nên bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng. Tốc độ tăng trưởng khu vực Đông Nam Á giảm 3,9% do mất nguồn thu từ du lịch quốc tế, suy giảm đầu tư của 14 khu vực tư nhân và giảm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và khai khoáng [Mạnh Hùng, 2021].
Ngoài van dé kinh tế, do giãn cách xã hội và hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống xã hội của các nước trên thế giới bị xáo trộn, nhu cầu tiêu dùng của người dân và xã hội suy giảm, ảnh hưởng nhiều nhất đến các lĩnh vực du lịch và dịch vụ; hàng loạt các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia khác nhau bị phá sản, kéo theo tình trạng thất nghiệp gia tăng. Đặc biệt, COVID-19 đã khiến cuộc chiến chống đói nghèo trên thế giới bị thụt lùi một thập niên, thậm chí ở một số khu vực trên thế giới như châu Phi, Mỹ La-tinh và Trung Đông, sự phát triển có thé bị tụt hậu 30 năm. Tổ chức Oxfam dẫn nghiên cứu của Đại học King ở Thủ đô London (Anh) và Đại học Quốc gia Australia ước tính, đại dịch COVID-19 sẽ khiến nửa tỷ người (khoảng 8% dân số thế giới) lâm vào cảnh nghèo đói. Đây là nghiên cứu đánh giá tác động của đại dịch COVID-19 đến tình trạng nghèo khổ toàn cầu trên cơ sở ngưỡng thu nhập 1,9 USD, 3,2 USD và 5,5 USD/ngay theo tính toán của Ngân hàng Thế giới (WB).
Đối với nhiều quốc gia, nhất là các nước châu Phi, vào thời điểm trước khi dịch bệnh COVID-19 trở thành một cuộc khủng hoảng y tế, các nước này đã phải gánh chịu cuộc khủng hoảng kinh tế bởi giá nguyên nhiên liệu bị rớt thê thảm, khoảng hơn 80 tỷ USD dau tư bị rút khỏi thi trường, khiến một nửa tỷ dân rơi vào cảnh nghèo đói. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang tan công các nền kinh tế châu Phi, các lĩnh vực như hang không, du lịch và thương mại của các nước này được cho là chịu hậu quả trước tiên. Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế, đại dịch COVID-19 sẽ khiến ngành hàng không châu Phi tốn thất khoảng 4,4 tỷ USD. Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Phi cho rằng, dịch bệnh COVID-19 sẽ khiến ngành du lịch châu Phi thiệt hại 7,2 tỷ USD, khoảng 80% số người lao động sẽ bị mất việc làm tạm thời, nhiều người phải kiếm sống từng ngày.
Sau khi thực hiện chính sách cách ly xã hội do dịch bệnh, những người lao động tầng lớp thấp sẽ mat đi cơ hội kiếm sống. Theo dự báo, tốc độ 15 tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Phi sẽ giảm từ 3,2% xuống 1,8% trong năm 2020 với tổng thiệt hại khoảng 29 tỷ USD [TTXVN, 2020].