Chương 1 QUAN HỆ MALAYSIA – SINGAPORE 1965 – 1981: QUAN HỆ NGHI KỴ TỒN TẠI NHIỀU BẤT ĐỒNG 1. Tiền đề của quan hệ Malaysia - Singapore 1. Vị trí địa lý Malaysia nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam Á, gần xích đạo, giữa 10 và 70 vĩ bắc, 1000 và 1190 kinh đông, với diện tích hơn 330. Malaysia có phần lãnh thổ tách biệt: Bán đảo Malaysia còn gọi là Tây Malaysia kéo dài từ eo đất Kra tới eo biển Johor, chiếm gần 4% diện tích đât nước và bắc Borneo – Đông Malaysia với hơn 60% tổng diện tích, cách nhau 750 km đường biển Đông.
Tây Malaysia gồm 11 bang trong đó 4 bang phía bắc có đường biên giới với Thái Lan, còn phía Nam được nối với Singapore bằng một chiếc cầu nhân tạo bắc qua eo biển. Đông Malaysia gồm bang Sarawak và Sabah, giáp với Indonesia về phía nam và với Brunei ở phía bắc. Nằm trên tuyến đường buôn bán Đông – Tây, bán đảo Malaysia đã từ lâu chiếm vị trí vô cùng quan trọng: là nơi trung chuyển hàng hóa từ Ả rập tới và từ Trung Quốc sang (với vị trí quan trọng này bán đảo là một trong những nơi bị các đế quốc nhòm ngó và tranh chấp sớm nhất ở Đông Nam Á). Malaysia là cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo nên không chỉ nằm trên đường giao lưu Đông Tây mà còn nằm trên đường giao lưu Nam Bắc ( từ nam Thái Bình Dương lên bắc Thái Bình Dương).
Vị trí trung tâm này cho phép Malaysia có thể tham gia vào hầu hết các tam giác, tứ giác phát triển của khu vực mà trước hết là tam giác Singapore – Johor – Riau; tam giác Indonesia – Malaysia và Singapore (tại đảo Bantam và Bitam của Indonesia); tam giác phía bắc bao gồm đảo Penang (Malaysia), Sumatra (Indonesia) và các tỉnh phía Nam Thái Lan. Eo Malacca, nằm giữa Sumatra và bán đảo Malaysia, được cho là tuyến đường hàng hải quan trọng nhất thế giới. Tanjung Piai, nằm ở bang phía nam Johor, là mũi cực nam của lục địa Châu Á. 11 z Singapore là hải đảo gồm 54 đảo, nằm ở cuối cực nam của bán đảo Malacca, cách xích đạo về phía Bắc khoảng 137 km.
Đất nước này bao gồm nhiều đảo khác nhau. Đảo Singapore là đảo chính, với chiều dài 42km, rộng 23km với diện tích khoảng 583 km2. Tổng diện tích các đảo là 642 km2. Singapore nằm ở cực Nam bán đảo Malacca, nối liền đảo Singapore với bán đảo Malacca là một đập bê tông lớn dài hơn 1km, được xây dựng từ thời thuộc địa Anh có đường sắt và đường bộ chạy qua eo biển Johor.
Singapore nằm án ngữ trên những tuyến đường biển quan trọng giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Đông – Nam Á hải dảo và Đông Nam Á lục địa. Điều này đem đến cho Singapore một vị trí địa lý có ý nghĩa chiến lược to lớn. Điều kiện tự nhiên Malaysia là đất nước với ¾ diện tích là đồi núi. Dọc theo bán đảo Malaysia là các dãy núi xếp thành hình bậc thang chạy từ tây sang đông và thấp dần từ bắc xuống nam.
Bờ biển phía tây rộng lớn, thấp và bằng phẳng, được chia cắt bởi nhiều cửa sông với các rừng sú vẹt bên bờ, là nơi tập trung phần lớn dân cư và kinh tế của bán đảo. Bờ biển phía đông đa dạng hơn: ở phía bắc, từ biên giới Thái Lan đến Kuanta là một dãy liên tiếp các đồng bằng châu thổ nhỏ (Kenlantan, Tarengaru, Pahang) bị chia cách bởi các đồng bằng hẹp ven biển trải dài khoảng 4-6 km, kế thừa từ những dải đụn cát bao quanh những vùng trũng nước ngọt hoặc nước lợ. Malaysia hải đảo, gồm hai bang Sabah và Sarawak ở phía bắc đảo Borneo, giáp Brunei và Indonesia. Hai phần này chia tách nhau bởi Biển Đông và có nhiều đặc điểm địa hình tương tự ở cả Tây và Đông Malaysia với những đồng bằng ven biển xen giữa những đồi rừng dày đặc và núi non.
Đất là một trong những nguồn tài nguyên lớn của Malaysia, phân hóa chủ yếu theo địa hình. Ở Malaysia chủ yếu là đất đỏ và đất laterit rất thích hợp cho nhiều loại cây trồng giá trị như cao su, cọ, dừa… Tại các đồng bằng thấp ven biển, do các phá lắng đọng, đất thường có sunfat chua không trồng trọt được nếu không được cải tạo đặc biệt. Đất than bùn chua có rất nhiều ở bờ biển phía đông bán đảo. 12 z Nằm gần xích đạo nên khí hậu ở Malaysia nóng quanh năm và độ ẩm không khí khá lớn.
Nhiệt độ trung bình từ 250 đến 280C, mức giao động trung binh hàng tháng khoảng 1.40C, độ ẩm trung bình là 80%. Lượng mưa hằng năm ở vùng duyên hải bán đảo Malacca: 2000-2500mm, còn ở vùng núi 3500-4000mm, ở vùng bắc Kalimantan lượng mưa trung bình hằng năm là 2500-5000mm. Ở Malaysia có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa, mỗi mùa được đánh dấu bằng các loại gió mùa. Do các hoạt động kiến tạo và quá trình bồi tụ lâu dài mà Malaysia có rất nhiều khoáng sản quý với trữ lượng cao như: thiếc – tập trung nhiều ở các bang bờ biển phía Tây như Perak, Selango; dầu hỏa, khí đốt là nguồn tài nguyên quan trọng hàng đầu của Malaysia, tập trung ở Đông Malaysia và bờ biển phía Đông bán đảo (bang Terengganu).
Ngoài ra còn có sắt (Perak, Terengganu, Johor), đồng, bô xít, than đá, vàng, cao lanh. Rừng chiếm tới 70% diện tích cả nước với nhiều lâm sản quý như gỗ, cọ, dầu và cao su, đây là nguồn xuất khẩu thu ngoại tệ quan trọng thứ 3 của Malaysia. Biển nhiều cá, trong lòng đất có nhiều khoáng sản với trữ lượng cao, đặc biệt là thiếc, dầu mỏ, khí đốt, đồng, chì.Rừng Malaysia thuộc thế hệ nhiệt đới gồm rừng miền núi, rừng đầm lầy và rừng ven biển ngập mặn. Cây gỗ chiếm tỷ lệ cao, nhiều loại lâm sản như mây, keo, cánh kiến trắng có giá trị xuất khẩu cao.
Sông ngòi ở Malaysia có hệ thống chi lưu khá dày đặc với lượng dòng chảy lớn do mưa nhiều và lượng bốc hơi ít. Những con sông chính là Rejang, Kinatabangan, Mengiri. với độ dài khoảng gần 600 km. Các sông ở Malaysia đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống đất nước – là các mạch máu giao thông, buôn bán chính của các vương quốc trước kia.
Ngoài ra, Malaysia còn có vùng biển rộng lớn với nhiều tài nguyên biển phong phú, nhiều bãi tắm với tiềm năng du lịch và nghỉ ngơi, đặc biệt có nhiều cảng kín và thuận lợi cho giao thông. 13 z Singapore quanh năm đều có mưa. Lượng mưa khá lớn, bình quân năm là 2350mm. Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, từ tháng 12 đến tháng 3 có lượng mưa rất lớn, có khi kéo dài cả ngày.
Từ tháng 6 đến tháng 8 khi có gió mùa Đông Nam thổi về, khí hậu trở nên khô nóng, ít mưa, nhưng lại hay có những đợt mưa rào bất chợt. Vào các tháng 4-5, 10-11 thường có những giông lớn, có sấm chớp. Tháng có nhiều ánh sáng mặt trời nhất trong năm là tháng 2, tháng ít ánh sáng mặt trời nhất là tháng 12. Tài nguyên thiên nhiên của Singapore có thể gọi là nghèo, chỉ có trữ lượng nhỏ than chì, nham thạch pha lẫn đất sét, đất đai ít màu mỡ.
Trước đây, ở những thung lũng sườn đồi và những khu đất bằng phẳng là những cánh rừng nhiệt đới nhiều tầng thực vật, nhiều động vật hoang dã như hổ, báo, trăn, cá sấu. Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây những cánh rừng nhiệt đới ngày càng thu nhỏ lại, chỉ còn một vài nơi giữ lại làm vườn thú quốc gia. Vườn thiên nhiên lớn nhất đó là vườn Bukit Batang ( bảo tồn khá nhiều động thực vật quý hiếm). Nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu hiện nay là nguồn cá biển và nước biển.
Nhưng nguồn biển bạc này cũng đang bị cạn kiệt dần. Dân cư Một trong những đặc điểm nổi bật của Malaysia là quốc gia đa dân tộc. Tính “đa dạng” này được tăng thêm chủ yếu từ thế kỷ XIX khi thực dân Anh khuyến khích lao động từ các nước di cư tới, đặc biệt là từ Trung Quốc và Ấn Độ. Thành phần dân cư của Malaysia tương đối phức tạp.
Các cư dân lâu đời ở đây như các tộc người Semang, Senoi, Jakun (ở bán đảo Malacca), Dusune, Bajan, Murut, Iban, Klemantan, Melamam, Kelabit, Katasan…(ở bắc Kalimantan) cùng với người Melayu được coi là người bản xứ và có tên gọi theo tiếng Melayu là Bumiputra. Do đặc điểm phát triển của lịch sử dần dần trong thành phần cư dân của Malaysia hình thành ba cộng đồng dân tộc chính: cộng đồng người Melayu (gồm bản thân người Melayu và các tộc người bản địa khác), cộng đồng người Trung Quốc và cộng đồng người Ấn Độ. 14 z Người bản địa, dân cư cổ nhất của Malaysia, được gọi là các bộ tộc thổ dân - Orangasli là những người có mặt ở đây sớm nhất, song chỉ một số lượng rất ít còn sống sót, hiện chủ yếu phân bố ở những vùng sâu phía trong bán đảo. Người bản địa chủ yếu săn bắn, đánh cá, hái lượm hoa quả, đại bộ phận họ vẫn giữ những đặc điểm của phương thức sản xuất bộ tộc và công xã cổ, phụ thuộc vào tự nhiên và sống xa xã hội văn minh.
Người Mã Lai còn gọi là Oeutro- Malaysia, di cư từ Vân Nam- Trung Quốc tới từ 2500 đến 1500 TCN, vốn là cư dân săn bắn, hái lượm và trồng trọt, ở nhà sàn. Ngôn ngữ của họ thuộc hệ Nam Đảo và là nhóm cư dân tiếp nhận ảnh hưởng sớm của văn hóa Ấn Độ. Ở đầu thiên niên kỷ thứ II TCN, dân tộc Mã Lai cổ đại đã hình thành do có sự di cư ở vùng Đông Nam Á, đông Sumatra đến bán đảo Malacca. Quá trình di cư này phát triển mạnh hơn vào thời kỳ cả hai vùng trên lập thành Đế chế Srivitgiai (thế kỷ VII-XIII).
Người Trung Quốc xuất hiện ở bán đảo Malacca thành các cộng đồng tương đối lớn từ thế kỷ XIV-XV. Người Hoa di cư đến đầu tiên gọi là “Ba ba” không theo đạo Hồi, sống rải rác ở Peenang. Nửa cuối thế kỷ XIX, người Hoa bắt đầu di cư từ bắc Kalimantan sang khu vực miền tây và ven biển bán đảo Malacca. Người Mã Lai cũng như người Bumiputra khác tuy là những chủ nhân thực sự của đất nước song thường nghèo và chủ yếu sống ở các vùng nông thôn, gắn liền với nông-lâm-ngư nghiệp.
Người Hoa tuy ít hơn song tập trung ở các thành phố (năm 1970) người Hoa chiếm 58% số dân đô thị trên bán đảo, đặc biệt ở các thành phố lớn ven biển phía Tây như Kualalumper – 55%; Giocgie Taon – 72%; Ipo – 72%; Malacca – 75%.