Chương 1: Các nhân tố của mối quan hệ Việt Nam - Canada Chương 2: Quan hệ Việt Nam – Canada từ 1973 - 2008 Chương 3: Đánh giá chung và triển vọng của quan hệ Việt Nam - Canada 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU CHI PHỐI MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – CANADA 1.1 Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Canada trƣớc 1973 Việt Nam và Canada chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973, nhưng trên thực tế hai nước đã có những mối quan hệ bước đầu từ giữa thập niên 50 của thế kỷ trước. Canada đã tham gia vào các hoạt động quốc tế có liên quan đến việc giải quyết các vấn đề về chính trị và hòa bình ở Việt Nam. Năm 1954, Canada cùng với Ấn Độ, Ba Lan tham gia Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát đối với việc thực hiện Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Đông Dương. Gần 20 năm sau, Canada lại một lần nữa tham gia vào Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát cho việc thực hiện hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Quan hệ Việt Nam – Canada thời kỳ đầu vẫn chưa có nhiều dấu ấn quan trọng nhưng Canada đã bắt đầu có những tín hiệu quan tâm đến Việt Nam. Trong chiến tranh lạnh mặc dù Canada là đồng minh của Mỹ nhưng trên thực tế, Canada không trực tiếp gửi quân tham chiến và thực hiện chính sách không can dự vào chiến tranh Việt Nam. Các chính phủ cầm quyền ở Canada trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ở những mức độ khác nhau đã phản đối việc Mỹ leo thang và kéo dài cuộc chiến. Các nhà ngoại giao Canada đã có những cố gắng trong vai trò làm trung gian trong đàm phán giữa Washington và Hà Nội, nhằm tìm kiếm giải pháp kết thúc chiến tranh và sự rút lui trong danh dự của Mỹ.
Để thực hiện điều này, nhà ngoại giao Canada Jaimes B.Seaborn, nguyên thành viên Uỷ ban Giám sát quốc tế lúc bây giờ đã đến Việt Nam 5 lần để thực hiện sứ mệnh này[6]. Vào những năm 60 thế kỷ trước , phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã diễn ra rộng khắp trên cả nước Mỹ. Hàng ngàn thanh niên Mỹ lúc đó 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trốn quân dịch đã di cư sang Canada và coi đây là nơi trú ẩn an toàn nhất. Theo số liệu thông kê của Bộ Di trú Canada, có khoảng 20 ngàn đến 30 ngàn thanh niên Mỹ trốn quân dịch và 12 ngàn lính Mỹ đào ngũ xin nhập cư vào Canada[28].
Bên cạnh đó, Canada cũng đưa ra chính sách nhập cư hết sức thuận lợi, tạo điều kiện cho những người nhập cư được vào Canada một cách dễ dàng. Phần lớn họ được định cư tại các thành phố lớn như Montreal, Toronto, Vancouver, đồng thời tham gia vào Liên hiệp Sinh viên vì hoà bình, một tổ chức chống chiến tranh ở Canada và tổ chức này có liên hệ với Tổ chức Sinh viên dân chủ Mỹ. Bên cạnh đó, số lượng công dân Mỹ, những người chống chiến tranh Việt Nam nhập cư vào Canada cũng ngày càng tăng, khoảng từ 50 ngàn đến 120 ngàn người. Vào năm 1971 -1972, lượng người Mỹ nhập cư vào Canada nhiều hơn so với lượng người nhập cư từ các nước khác.
Điều này đã tạo nên làn sóng di cư vì lí do chính trị lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ kể từ sau cách mạng Mỹ[13]. Lượng người Mỹ di cư sang Canada nhiều đã khiến cho phong trào chống chiến tranh ở Canada ngày càng lan rộng, đặc biệt trong các trường đại học và cao đẳng với sự tham gia của các nhóm sinh viên phản chiến. Tuy nhiên, đấy là mới chỉ nhìn ở mặt tích cực và nó mới chỉ phản ánh được một phần sự thật. Trên thực tế Canada đã can dự sâu vào chiến tranh Việt nam.
Theo hãng truyền hình quốc gia Canada CBC cho thấy, đã có “cuộc chiến tranh bí mật của Canada”[9]. Canada là một trong những nhà cung cấp chính về vũ khí, thiết bị quân sự chính cho Mỹ. Theo Hiệp định về trao đổi sản phẩm quốc phòng ký với Mỹ năm 1958, Canada đã bán cho Mỹ tổng giá trị vũ khí, đạn dược, bom napalm và hoá chất có trị giá lên đến 2,5 tỷ USD trong những năm 1965 – 1973. Bên cạnh đó, cũng trong thời gian này, Canada xuất khẩu sang Mỹ khoảng 10 tỷ USD các sản phẩm đồ uống, quân trang quân dụng, vật liệu chiến tranh.
Bộ Quốc phòng Canada đã hợp tác với 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mỹ trong các dự án thử nghiệm chất diệt cỏ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Đồng thời, với tư cách là thành viên của NATO, Canada đã cho phép NATO tiến hành các hoạt động thử vũ khí, tập trận trên lãnh thổ nước mình. Vì vậy, một số tỉnh của Canada sau này đã phải gánh chịu những hậu quả của việc thử nghiệm chất độc màu da cam. Ngoài ra, có khoảng 10 ngàn người Canada tham gia quân đội Mỹ với tư cách là lính đánh thuê cho quân đội Mỹ trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam[28].
Điều này đã gây ảnh hưởng đến mối quan hệ trước đây giữa Việt Nam và Canada. Vào những năm giữa của thập niên 60, kinh tế Canada giảm sút đến mức thấp nhất kể từ sau Thế chiến thứ hai. Trong khi đó kinh tế Mỹ lại tăng nhanh, đó là thời điểm thuận lợi cho các công ty Mỹ mở rộng dự án đầu tư vào Canada, đặc biệt là trong ngành công nghiệp và khai thác kim loại. Một trong những nguyên nhân của sự tăng trưởng này là do những đơn đặt hàng có nguồn gốc từ cuộc chiến tranh của Mỹ.
Bộ truởng Bộ Lao động Canada , Jean Marchand, khi trả lời phỏng vấn phóng viên ở Montreal về vấn đề này đã lý giải rằng, khoảng 150 ngàn công nhân Canada sẽ mất việc nếu chúng ta ngừng sản xuất các thiết bị và vật liệu chiến tranh theo đơn đặt hàng của Mỹ[26]. Trong suốt thời gian diễn ra chiến tranh Việt Nam, Canada một mặt muốn giữ quan hệ với Mỹ do đang có nhiều phụ thuộc vào kinh tế Mỹ, mặt khác lại viện trợ giúp đỡ để duy trì quan hệ với Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ năm 1950 - 1975, Canada đã viện trợ nhân đạo cho các nạn nhân chiến tranh Việt Nam thông qua Hội Chữ Thập Đỏ Canada và tổ chức Colombo lên tới 29 triệu USD. Tuy nhiên, số tiền này lại được chuyển cho chính quyền Nam Việt Nam, còn Bắc Việt nam thì hoàn toàn không nhận được chút nào.
Để giải thích cho vấn đề này, Gordon Lonmier, một thành viên của Uỷ ban Giám sát quốc tế Canada vào tháng 3/1968 đã nói rằng “Chương trình viện trợ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của chúng ta chỉ mang ý nghiã nhân đạo một nửa, còn một nửa mang tính chính trị”[27]. Sau Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, từ ngày 28/1 đến ngày 31/7/1973, Canada đã gửi 240 người thuộc Lực lượng gìn giữ hoà bình tham gia vào Uỷ ban Giám sát quốc tế (ICCS) cùng với Hungary, Indonesia và Ba lan. Tháng 4/1975, sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, chính phủ Canada tiếp nhận hàng chục ngàn người Việt Nam tị nạn sang Canada và đây là dòng người nhập cư lớn nhất trong lịch sử Canada và chủ yếu sống tập trung ở thành phố Vancouver, Toronto và Montreal. Như vậy, chiến tranh Việt Nam đã tác động không nhỏ đến Canada trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị – xã hội và văn hoá.
Nhiều người Canada có thể cho rằng Canada là nước trung lập, trợ giúp cho cả Việt Nam và Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế thì cả Mỹ và Canada đều là nước tư bản nên Canada đã đứng về phía Mỹ trong chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và tạo lợi ích chiến lược trong cuộc đối đầu Đông Tây. Do vậy chính sách của Canada vào thời điểm đó là “Chính sách của một nước phương Tây đối với một nước cộng sản”[6, tr5]. Đó là lí do lý giải vì sao Canada không thể hoàn toàn đóng vai trò trung lập mà vẫn gián tiếp can dự vào chiến tranh Việt Nam.
Hơn nữa, vào thập niên 50 của thế kỷ trước, trong bối cảnh của trật tự thế giới hai cực và sự mở rộng ảnh hưởng sức mạnh của nước Mỹ, Canada thực hiện chiến lược liên minh toàn diện với Mỹ và là một trong số những nước phương Tây công nhận chính quyền Việt Nam Cộng hoà từ cuối năm 1955. Đến cuối thập niên 50, Canada đã có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng giảm dần sự lệ thuộc vào Mỹ bằng chính sách đa phương hoá quan hệ quốc tế, bắt đầu từ chính phủ của Thủ tướng Diefenbaker (1957- 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1963), tiếp theo là chính phủ của Thủ tướng Pearson (1963-1968) và được đẩy mạnh dưới thời của Thủ tướng Trudeau (1968- 1979) (1980 -1984). Sự điều chỉnh chính sách này đã tác động lớn đến quan điểm của Canada đối với cuộc chiến ở Việt Nam. Ngày 2/4/1965, trước việc Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam, Thủ tướng Pearson, trong chuyến thăm Mỹ đã công khai phê phán chính sách chiến tranh của Mỹ.
Dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, Chính phủ Canada đã kêu gọi Chính phủ Mỹ chấm dứt ném bom ở Bắc Việt Nam. Tháng 1-1973, chính phủ của Thủ tướng Trudeau đã trình lên Quốc hội Canada một nghị quyết lên án cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Canada đã tham gia vào Uỷ ban Giám sát và Kiểm soát quốc tế việc thi hành Hiệp định này. Cũng trong năm 1973, Canada đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tháng 9-1976, Việt Nam mở Đại sứ quán ở Ottawa, thủ đô Canada. Thời điểm này Mỹ bắt đầu tiến hành bao vây cấm vận với Việt Nam do đó mối quan hệ giữa Canada với Việt Nam từ năm 1973 đến 1976 không có nhiều biến chuyển. Sau đó, Canada cũng đi trước Mỹ trong việc mở Phái đoàn ngoại giao của Canada ở Hà Nội tháng 7-1991 và chính thức khai trương Đại sứ quán của Canada ở Hà Nội tháng 8-1994. Kể từ thời điểm này, quan hệ Việt Nam - Canada không ngừng phát triển và đạt được nhiều kết quả hợp tác trên các lĩnh vực khác nhau.