mở đầu thời kỳ Ăng Co huy hoàng chính là Jayavarman II. Sự kiện này đƣợc mô tả trong một tấm bia có niên đại đầu thế kỷ IX. Bấy giờ thủ đô đặt ở Indrapura thuộc tỉnh Kông Pông Chàm ở hạ lƣu sông Mekong. Sau khi lên ngôi, nhà vua đã dùng một giáo sĩ Bà La Môn làm vị tu sĩ đầu tiên của triều đình và dùng tôn giáo của thần làm tôn giáo chính thống của vƣơng quốc.
Và Ấn Độ giáo đã tồn tại ở Khơ Me trong nhiều thế kỷ. Nhƣng ông vua này không phải là ngƣời đầu tiên lập thủ đô ở Angco. Đến thế kỷ XI, Campuchia xuất hiện một vị vua mới đã định đô ở Ăng Co và xây dựng Ăng Co thành một thành phố huy hoàng với các kiến trúc của Ấn Độ giáo, đó là vua Suriavarman I (1002 - 1050). Nhƣng Ăng Co không chỉ là thành phố của Ấn Độ giáo mà sau này Phật giáo thịnh hành, nhiều công trình Phật giáo đã đƣợc xây dựng khiến cho thành phố trở thành nơi kết hợp tài tình của hai tôn giáo là Ấn Độ giáo và Phật giáo.
Việc thờ Ấn Độ giáo cũng thấy có ở miền Trung và Nam Thái Lan. Ngày nay những đền thờ Ấn Độ giáo không còn nhƣng những vật thiêng của Ấn Độ giáo còn thấy ở trong một số ngôi chùa, kể cả một số ngôi chùa lớn của thủ đô Băng Cốc. Tại Myanma, tại Srikshetra, thủ đô của vƣơng quốc Pyu, một vƣơng quốc bị diệt vong vào thế kỷ XI, tại vƣơng quốc Môn ở Nam Miến và ngay tại Pa Gan, nơi đƣợc coi là đạo Phật thịnh hành khá sớm, thì đều tìm thấy những vật thiêng chứng 11 z tỏ sự thờ cúng Ấn Độ giáo. Nhƣng có lẽ ở vƣơng quốc này, Ấn Độ giáo chƣa bao giờ giành đƣợc vị trí quốc giáo.
Ấn Độ giáo cũng sớm có mặt ở Đông Nam Á hải đảo. Nếu theo sử ký của Trung Quốc, Phật giáo đã thống trị miền Trung đảo Java vào thế kỷ thứ VII thì bia ký đã cho biết cùng thời gian đó, Ấn Độ giáo đã thống trị Bali và Sumatra. Dòng họ Sanjaya ở đây đã xây dựng những Chanđi với biểu tƣợng của thần Silva và những vị vua của dòng họ này cũng đƣợc đồng nhất với thần Silva. Những Chanđi này khi nhà vua chết đƣợc dùng làm hầm mộ của vua.
Đến thế kỷ IX, ở miền trung Java, khi sự thống trị của dòng họ theo Phật giáo suy yếu thì Ấn Độ giáo đã phát triển mạnh mẽ. Nhƣng cũng chỉ đến đây, Ấn Độ giáo dần suy tàn vì sau đó thủ đô vƣơng quốc đã đƣợc chuyển về miền Đông Java. Nhƣng Ấn Độ giáo cũng chỉ tồn tại cho đến thế kỷ XIV ở vùng đảo. Bởi vì từ thế kỷ XIV, Thiên chúa giáo và Hồi giáo đã đến vùng đảo theo chân những lái thƣơng lái phƣơng Tây vào Trung cận Đông và hai tôn giáo này đã ngự trị vùng đảo cho đến tận ngày nay.
Ngoài ra đạo Phật cũng có những ảnh hƣởng nhất định đối với Đông Nam Á những năm đầu công nguyên. Đối với hầu hết các quốc gia Đông Nam Á lục địa những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã luôn song hành cùng Ấn Độ giáo. Ngày nay ngƣời ta đã tìm thấy nhiều phù điêu tạc đức Phật và nhiều pho tƣợng Phật ở các vƣơng quốc đó. Nhƣng có thể nói đó là thời kỳ vai trò của đạo Phật khá mờ nhạt.
Chỉ ở vùng đảo Java, Phật giáo Đại thừa đã đƣợc dòng họ thống trị miền trung Java là Sailendra tôn thờ. Họ đã cho xây dựng ở miền trung Java một công trình Phật giáo đồ sộ của Borobuadua. Mặc dù là công trình Phật giáo, nhƣng Borobuadua là thể hiện sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật Phật giáo và tín ngƣỡng bản địa của ngƣời Indonesia. Phật giáo đã tồn tại ở vƣơng quốc này tới 4 thế kỷ (thế kỷ VIII đến XII).
Sau đó đạo Phật đã lan truyền tới Bắc bán đảo Malaysia, Campuchia, Nam và Bắc Thái Lan và đảo Xumatơra. Tới thế kỷ XII, với sự thắng thế của các thế lực ở miền đông Java trên toàn vƣơng quốc, Ấn Độ giáo lại thắng thế luôn ở miền Trung Java. Thế kỷ XIII – XIV là thế kỷ đánh dấu sự suy tàn của Ấn Độ giáo hầu nhƣ trên toàn cõi Đông Nam Á lục địa và mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ Phật giáo tiểu 12 z thừa lên ngôi. Từ đây, ở hầu hết các nƣớc Đông Nam Á lục địa nhƣ Thái Lan, Myanma, Campuchia và Lào, đạo phật đã giữ đƣợc vị trí quốc giáo.
Với vai trò quốc giáo, Phật giáo đã có những ảnh hƣởng mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực trong đời sống văn hóa và chính trị của các quốc gia trên. Cùng với sự du nhập của Ấn Độ giáo và Phật giáo vào khu vực Đông Nam Á thì ngôn ngữ và văn tự cũng đi theo những tôn giáo này. Một nền văn học phong phú mang ảnh hƣởng rõ nét của Ấn Độ giáo và Phật giáo cũng xuất hiện. Ngoài ra sự du nhập của nền nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phật giáo cũng phát triển mạnh mẽ và nhiều công trình kiến trúc còn tồn tại cho đến ngày nay.
Nhƣ vậy ta có thể thấy tôn giáo Ấn Độ đã du nhập vào Đông Nam Á ngay từ đầu công nguyên mà đại biểu là hai tôn giáo lớn Ấn Độ Giáo và Phật Giáo. Dù có qui chế nghiêm ngặt nhƣ Ấn Độ giáo hay khoan hòa nhƣ đạo phật thì cả hai tôn giáo đều xâm nhập một cách hòa bình vào Đông Nam Á, đã đƣợc cƣ dân Đông Nam Á đón nhận và chính cƣ dân Đông Nam Á đã góp phần đƣa hai tôn giáo này phát triển đến đỉnh cao. Trong quá trình phát triển của lịch sử các quốc gia Đông Nam Á, văn hóa Ấn Độ đã có những đóng góp nhất định đối với sự ra đời của một số vƣơng quốc. Nó cũng giữ vai trò quan trọng đối với sự hƣng thịnh của một số quốc gia.
Những dấu ấn và đặc trƣng quan trọng của hai tôn giáo này đã để lại rõ nét trong nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội họa của cƣ dân Đông Nam Á. Nó cũng ảnh hƣởng mạnh mẽ tới sự ra đời của ngôn ngữ - văn tự của nền văn học Đông Nam Á. Khi đã ăn sâu bám rễ vào mảnh đất Đông Nam Á, Ấn Độ giáo và Phật giáo đã đƣợc bản địa hóa khiến cho ở nhiều nơi nó đã trở thành gần nhƣ một phong tục tập quán của nhân dân. Và cũng chính tại ngay ở những nơi mà nó đã du nhập đến, hai tôn giáo này đã phát triển đôi khi còn mạnh hơn cả ở Ấn Độ, nơi quê hƣơng đã khai sinh ra các tôn giáo này.
Đó là đặc biệt nhất mà văn minh Ấn Độ đã đem đến cho cƣ dân trong khu vực Đông Nam Á. Ảnh hưởng về nghệ thuật kiến trúc: “nghệ thuật Ấn Độ đã có một ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đối với nền nghệ thuật của các quốc gia Đông Nam Á thời kỳ trung đại. Ảnh hưởng này sâu sắc tới mức mà có lúc người ta đã xem nghệ thuật của các quốc gia này như là một nền nghệ thuật phái sinh của nghệ thuật Ấn Độ” [7 tr 188]. 13 z Kiến trúc Phật giáo ở Ấn Độ phát triển rực rỡ vào thời Asoka, dƣới vƣơng triều Maurya.
Thời kỳ này nghệ thuật kiến trúc phật giáo thƣờng gồm 3 phần: tháp phật, tịnh xá và những tăng viện. Các công trình nghệ thuật Đông Nam Á sau này chủ yếu dựa vào nghệ thuật của các tháp Phật nhƣ đền tháp Borobudur của Indonesia, Thạt Luổng của Lào, đền Angkor Vat của Campuchia, An Nam tứ đại khí, tƣợng phật Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh của Việt Nam… Nhƣ vậy, ảnh hƣởng to lớn của văn hoá Ấn Độ đối với các quốc gia khu vực Đông Nam Á là không phải bàn cãi. Điều này chứng tỏ sự giàu có của cái nôi văn hoá phƣơng Đông cũng nhƣ sự gần gũi giữa Ấn Độ và Đông Nam Á trong lịch sử phát triển. Từ quá khứ xa xôi Thời gian chính xác mà ngƣời Ấn Độ đặt chân đến Đông Nam Á cho đến nay vẫn còn là một dấu hỏi lớn.
Tuy nhiên, dựa vào những cứ liệu khoa học, các sử gia đã đƣa ra những giả thiết về những chuyến đi đầu tiên của ngƣời Ấn Độ tới khu vực này. Sử gia Nicholas Tarling đã viết “các sử gia không biết chính xác là vào lúc nào những con thuyền Ấn Độ đầu tiên tới Đông Nam Á, nhƣng nhiều ngƣời đã tin là vào khoảng thế kỷ thứ hai trƣớc công nguyên”. Ngƣời ta cho rằng vào thời kỳ Maurya, nguồn cung cấp vàng chính của Ấn Độ đến từ Siberi và từ vùng bắc Trung Á. Nhƣng sau khi vƣơng triều Maurya sụp đổ, các cƣ dân thảo nguyên đã cắt đứt nguồn cung này và buộc ngƣời Ấn Độ phải tìm vàng ở các nơi khác.
Sau đó các thƣơng gia Ấn Độ bắt đầu tới Đông Nam Á theo đƣờng thủy để tìm các đảo vàng. Ở Miến Điện, ngoài đoàn truyền giáo của các nhà sƣ Phật giáo Sona và Uttara do vua Asoka thế kỷ 3 trƣớc công nguyên gửi tới vùng đất vàng, không còn dấu tích nào khác về quá trình xâm nhập của ngƣời Ấn Độ cho tới năm 500 sau 14 z công nguyên, niên đại mà những tác phẩm dở dang của kinh sách bằng tiếng Pali đƣợc tìm thấy ở Moza và Maungun trên di chỉ cổ Prome. Ở lƣu vực sông Chao Phraya (Thái Lan), di chỉ Phra Pathom và xa hơn nữa về phía tây, di chỉ Phong Tuk trên sông Kanburi đã có nền móng của các dinh thự và các tác phẩm điêu khắc Phật giáo thuộc các phong cách Gupta và hậu Gupta. Một tƣợng Phật bằng đồng nhỏ lần đầu tiên đƣợc cho là thuộc trƣờng phái Amaravati và do vậy ngƣời ta xác định niên đại là thế kỷ 3 và 4 sau công nguyên nhƣng về sau ngƣời ta mới thực sự công nhận niên đại này.
Ở phía nam Việt Nam, ngƣời Trung Quốc coi sự thiết lập vƣơng quốc Phù Nam là do Brahma Kaundinya ở thế kỷ I sau công nguyên. Trung Quốc có quan hệ với Phù Nam ở thế kỷ 3 sau công nguyên, và bản cổ nhất trong số những bản khắc bằng chữ Sanskrit mà chúng ta có đƣợc có niên đại vào thời gian này. Tƣợng Poseidon bằng đồng đƣợc tìm thấy ở Trà Vinh, vốn đƣợc lấy cảm hứng từ một bức tƣợng nổi tiếng của Lysippus ở Óc Eo thuộc Tây Nam Bộ. Trong số các hiện vật cổ nhất là một huy hiệu (medallion) bằng vàng giống nhƣ của Antonius Piusm có niên đại là năm 152 SCN ko tạo nên những chứng cứ về sự Ấn Độ hóa.