Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á THỜI KỲ THỦ TƯỚNG MODI 1.1 Những khái niệm liên quan tới ngoại giao văn hoá 1.1 Về khái niệm “Ngoại giao” và “văn hoá” Xét thuật ngữ, ngoại giao văn hoá được hợp thành từ hai từ là “ngoại giao” (Diplomacy) và “văn hoá” (Culture). Trên thực tế, ngoại giao vừa là “một phạm trù thực hành vừa là một phạm trù phân tích” nghĩa là các định nghĩa đương đại về ngoại giao rất rộng và khác biệt theo ranh giới nhận thức luận và phương pháp luận. Theo từ điển Oxford, “Ngoại giao là một nghề, hoạt động hay kỹ năng quản lý quan hệ quốc tế, tiêu biểu cho những người đại diện của một đất nước tại nước ngoài”, “Ngoại giao là nghệ thuật giao thiệp với mọi người một cách nhạy cảm và khéo léo”, còn văn hoá bao gồm “các loại hình nghệ thuật và những hình thức thể hiện khác của thành tựu tri thức của con người nói chung”, “những ý tưởng, phong tục tập quán và hành vi xã hội của một nhóm hoặc cộng đồng”1.
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, ngoại giao là “sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi cả quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung”2. Trong khi đó, Từ điển Britannica online cho rằng ngoại giao: “bao gồm các phương pháp đã được thiết lập để gây ảnh hưởng đến các quyết định và hành vi của các chính phủ và người dân nước ngoài thông qua đối thoại, đàm phán và các biện pháp khác mà không cần đến chiến tranh hoặc bạo lực”3. Các hoạt động ngoại giao hiện đại là sản phẩm của hệ thống nhà nước châu Âu thời kỳ hậu Phục hưng. Về mặt lịch sử, ngoại giao có nghĩa là tiến hành các mối quan hệ chính thức (thường là song phương) giữa các quốc gia có chủ quyền.
Tuy nhiên, đến thế kỷ 20, các thông lệ ngoại giao tiên phong ở châu Âu đã được áp dụng trên toàn thế giới và ngoại giao đã mở rộng để bao gồm các cuộc họp thượng đỉnh và các hội 1 Từ điển Oxford Online: https://en.com/definition/diplomacy. 2 Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. 3 Từ điển Britannica Online: https://www.com/topic/diplomacy 2 nghị quốc tế khác, ngoại giao nghị viện, các hoạt động quốc tế của các thực thể siêu quốc gia và địa phương, ngoại giao không chính thức của các thành phần phi chính phủ, và công việc của các công chức quốc tế. Về định nghĩa, theo định nghĩa của Từ điển Britannica online, “văn hóa bao gồm ngôn ngữ, ý tưởng, niềm tin, phong tục, mật mã, thể chế, công cụ, kỹ thuật, tác phẩm nghệ thuật, nghi lễ và nghi lễ, cùng các yếu tố khác”, trong đó, “Sự tồn tại và sử dụng văn hóa phụ thuộc vào khả năng của riêng con người”4.
Trong khi đó, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa là: là một tổng hợp các đặc điểm tinh thần, thể chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hoặc một nhóm xã hội, bao hàm không chỉ nghệ thuật và văn học mà còn cả lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng. Những đặc trưng của các yếu tố cấu thành đó giúp ta phân biệt được một xã hội (hoặc một nhóm xã hội) với các xã hội (hoặc nhóm xã hội) khác.5 Hiện nay, giới nghiên cứu có xu hướng chia văn hóa thành ba phần: văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất và văn hóa xã hội; hoặc văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Định nghĩa “Ngoại giao văn hoá” Trên thực tế, nhiều học giả đã đưa ra những định nghĩa mang tính tổng thể và chức năng về phạm trù “ngoại giao văn hoá”. Theo học giả Milton Cummings (Đại học John Hopkins), ngoại giao văn hoá được coi là “sự chia sẻ về ý tưởng, thông tin, nghệ thuật và những khía cạnh khác của văn hoá giữa các quốc gia và người dân của các quốc gia này nhằm nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”6.
Juliet Sablowsky (Đại học Georgetown) cho rằng, “về bản chất, các hoạt động ngoại giao văn hóa liên quan đến các khoản đầu tư dài hạn vào quan hệ của chúng ta (Hoa Kỳ) với người dân ở các quốc gia khác…”7. Và nếu coi “văn hóa của một quốc gia là tổng thể những thành tựu của quốc gia đó, là sự thể hiện cá tính riêng của quốc gia đó; cách suy nghĩ và hành động của mình”, thì “các chương trình 4 Từ điển Britannica Online: https://www.com/topic/culture 5 UNESCO (2001), “Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa”, UNESCO, 2/11/2001. 6 Milton Cummings (2009), Cultural Diplomacy and the United States Government: A Survey, Cultural Diplomacy Research Series, Center for Arts and Culture, Washington D.org/sites/default/files/MCCpaper.pdf 7 Juliet Sablosk (2003), Recent Trends in Department of State Support for Cultural Diplomacy: 1993 – 2002, The Center for Arts and Culture, Washiongton D.C 3 quan hệ văn hóa với nước ngoài của nó là phương pháp làm cho những điều này được người nước ngoài biết đến”8. Nhiều học giả cũng đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “ngoại giao văn hoá”.
Cụ thể, “ngoại giao văn hoá” “là sự giao lưu những tư tưởng, trao đổi thông tin, nghệ thuật, lối sống, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng và các phương diện khác của văn hoá nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia và dân tộc”9. Trong đó, ngoại giao văn hoá được xem là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến sử dụng văn hoá như là đối tượng và phương tiện nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại của quốc gia, tạo hình ảnh tốt đẹp của đất nước, quảng bá văn hoá và ngôn ngữ quốc gia trên thế giới10. Về nội hàm, “ngoại giao văn hoá” là tổng thể các hoạt động được triển khai bằng và trên cơ sở trao đổi, giao lưu các giá trị, tư tưởng, truyền thống, phong tục, bản sắc và các loại hình khác của văn hoá, nhằm mục tiêu tăng cường mối quan hệ, đẩy mạnh hợp tác văn hoá-xã hội hoặc thúc đẩy các lợi ích quốc gia, ngoại giao văn hoá có thể được triển khai bởi khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và xã hội dân sự11. Xét về cấu trúc, “ngoại giao văn hoá” được xem là hình thức ngoại giao do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, điều phối, với sự tham gia của nhiều chủ thể phi nhà nước khác, thể hiện sự quảng bá, giao lưu các giá trị văn hoá, văn học, nghệ thuật, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và các phương diện khác của một quốc gia với một hoặc nhiều quốc gia khác trên thế giới nhằm đạt được những mục tiêu chính sách đối ngoại của đất nước.12 Tuy nhiên, chủ thể của ngoại giao văn hóa chưa được xác định rõ ràng, do đó nó không được định nghĩa một cách chính xác, điều này có thể mở rộng trong khu vực tư nhân và xã hội dân sự.
Trong khi đó, phần lớn các học giả Trung Quốc ủng hộ quan điểm hạn chế ngoại giao văn hóa trong khung “ngoại giao nhà nước”. Phần lớn các học giả Trung Quốc cho rằng, một khi ngoại giao là một thuật ngữ chung cho 8 Ruth Emily McMurry and Muna Lee (1947), The Cultural Approach: Another Way in International Relations, Chapel Hill: University of North Carolina Press, pp. 9 Cummings, Milton (2003) Cultural Diplomacy and The United States Government; a Survey, Center for Arts and Culture, USA 10 Trần Trọng Toàn (2008), “Góp thêm một số ý kiến về xây dựng chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam”, trong Ngoại giao văn hoá “vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế”, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 11 Institute for Cultural Diplomacy (2013), Cultural Diplomacy Dictionary, Germany.
12 Nguyễn Hải Anh (2015), Ngoại giao văn hoá trong quan hệ quốc tế đương đại, Luận án tiến sĩ Quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao. 4 chính sách đối ngoại và các hoạt động ngoại giao của một quốc gia có chủ quyền, thì chủ thể của ngoại giao văn hóa phải là các nhà nước, các quốc gia. Và đây chính là sự khác biệt giữa “ngoại giao văn hoá” và “giao lưu văn hoá’, bởi chủ thể không phải là các cá nhân mà chính là nhà nước. Với cách tiếp cận này, thì quan hệ giữa các xã hội dân sự sẽ không được xem là “ngoại giao văn hóa” vì chủ thể tiến hành nó là các cá nhân – phi quốc gia, không nhân danh nhà nước có chủ quyền, có tư cách pháp nhân.
Điều này được Mạnh Hiểu Tứ (孟晓驷) - Thứ trưởng phụ trách Ngoại giao văn hóa của Trung Quốc nói rõ: “Hàm nghĩa cụ thể của ngoại giao văn hóa là các hoạt động ngoại giao được thực hiện bởi quốc gia có chủ quyền, nhằm duy trì lợi ích văn hóa của đất nước và thực hiện chiến lược văn hóa đối ngoại với mục đích nhất định. Các hoạt động này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của một chính sách văn hóa đối ngoại cụ thể và triển khai bằng mọi phương tiện hòa bình, bao gồm cả phương tiện văn hóa”, trong đó “Ngoại giao văn hóa như là cách thức và kế hoạch tổ chức hoạt động xoay quanh việc tạo ra quan hệ ngoại giao của một quốc gia để đạt được các mục tiêu nhất định. Phương thức này sử dụng văn hóa làm công cụ truyền thông hoặc phương tiện, nhằm thúc đẩy các hoạt động quốc tế hoặc quan hệ giữa các quốc gia trong một khung thời gian được định sẵn và tập trung vào các đối tượng đã xác định trước. Trên cơ sở cách tiếp cận này, “ngoại giao văn hoá” được xem là góp phần gia tăng sức mạnh mềm của một quốc gia trên trường quốc tế để đạt quyền lực mềm.
Và thực tế, quyền lực mềm của quốc gia chỉ phát huy hiệu quả khi nó đươc truyền bá ra thế giới bên ngoài thông qua con đường ngoại giao văn hóa, và đó là phương thức truyền tải sức mạnh mềm của quốc gia ra ngoài cương giới lãnh thổ. Ở Việt Nam, nhận thực về “ngoại giao văn hóa” vẫn còn khá mới. Do đó, có sự khác biệt giữa các nhà học giả, các nhà hoạch định chính sách về định nghĩa về ngoại giao văn hóa. Đáng chú ý, dù có nhiều khác biệt, hầu hết các chính khách, học giả đều thống nhất khi cho rằng: “Ngoại giao văn hóa” (Cultural Diplomacy) là một trong những trụ cột quan trọng của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế tạo nên một mặt trận chung, đưa lại thành quả 13 孟晓驷 (2005), “锦上添花: 文化外交的使命”, 人民日版, 2005年11月11日, 第七版. 5 chung của nền ngoại giao Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay.