Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ỘNG ẾN QUAN HỆ ẤN Ộ - ASEAN DƯỚI THỜI THỦ TƯỚNG NARENDRA MODI 1. Những nhân tố khách quan 1. Tình hình thế giới và khu vực có nhiều thay đổi trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI Trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã hội của các quốc gia, trong đó có mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN. Thứ nhất, một trong những thành quả, xu thế phát triển mới của nhân loại trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI là sự ra đời, phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.
Theo ông Klaus Schwab, người sáng lập và là Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới, bản chất của Cách mạng công nghiệp 4.0 rất khác so với các cuộc cách mạnh công nghiệp trước đó: “Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Đến bây giờ, cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật và sinh học” [61].
Cuộc cách mạng này đang diễn ra tại các nước phát triển G7 như Mỹ, EU, Nhật Bản và tại các nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc… các quốc gia khác cũng tham gia ở mức độ khác nhau và chịu sự tác động của nó. Với những đặc thù là cuộc cách mạng mới trong phương thức sản xuất dựa trên những thành tựu của công nghệ số trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và 10 internet kết nối vạn vật, công nghệ nano, theo dự báo cuộc cách mạng này là một sự thay đổi lớn mang tính đột phá về quy mô và sẽ có tác động tới tất cả các ngành nghề lĩnh vực đời sống xã hội, chứ không phải chỉ liên quan trong ngành công nghiệp, hệ thống các doanh nghiệp và từng cá nhân, từng người dân trong các quốc gia. Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất thế giới, làm quốc tế hóa sâu sắc quá trình mở rộng sản xuất, phân phối trên phạm vi toàn cầu, tạo nên sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Cách mạng khoa học công nghệ đang biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm gia tăng các phát minh, sáng chế và tốc độ ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất và sinh hoạt của con người.
Đây là những tiền đề phát triển hoàn toàn mới, phi truyền thống, làm thay đổi tư duy, phương thức quan hệ giữa các nước, đặc biệt là các trung tâm quyền lực đã và sẽ thay đổi đáng kể. Cách mạng khoa học công nghệ còn làm thay đổi tư duy của các nước về thế giới quan và chiến lược đối ngoại, thay đổi phương thức quan hệ giữa các quốc gia. Bên cạnh cơ hội mới to lớn tạo ra, Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với nhân loại như nó có thể phá vỡ cơ cấu lao động truyền thống khi tự động hóa robot thay thế lao động chân tay trong nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, có khả năng hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp; đặt ra nhiều thách thức đối với con người trong thời đại số hóa, nhất là sự nguy hiểm về sức khỏe, an ninh tài chính, an ninh mạng, việc bảo hộ thông tin cá nhân; đòi hỏi thể chế của Nhà nước phải có đổi mới theo hướng dự báo được những xu thế thay đổi và xây dựng những giải pháp ứng phó kịp thời. Thứ hai, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu tăng trưởng tích cực hơn nhờ sự phục hồi của một số nền kinh tế lớn, xu thế hợp tác liên kết toàn cầu và khu vực vẫn tiếp tục được thúc đẩy.
Dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế 11 (IMF), kinh tế thế giới có thể đạt được 3,6% năm 2017 và 37% năm 2018. Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực tăng trưởng năng động, dự báo đạt 5,5% năm 2017 và 5,4% năm 2018. Các nước tăng cường thúc đẩy liên kết kinh tế, đàm phán các hiệp định tự do thương mại, đưa ra nhiều sáng kiến hợp tác khu vực, đảm bảo tận dụng những lợi thế của xu hướng toàn cầu hóa, của Cách mạng công nghệ, kỷ nguyên công nghệ số và chú trọng các yếu tố phát triển bền vững. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng còn nhiều rủi ro, chưa bền vững do sự điều chỉnh chính sách của một số nước, bất ổn tài chính, tiền tệ, các vấn đề có thể nảy sinh từ tiến trình cải cách cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng, căng thẳng địa chính trị, an ninh quốc tế và chủ nghĩa dân túy.
Thứ ba, các vấn đề an ninh phi truyền thống như: biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan liên tiếp xảy ra với nhiều hình thức và mức độ tác động khác nhau. Những cơn bão nhiệt đới ở khu vực Tây bán cầu (như Harvey, Irma…) hay những cơn bão gần đây tại châu Á đặt ra những câu hỏi về hiệu quả hành động của các quốc gia trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Tình hình tội phạm xuyên quốc gia như buôn lậu ma túy, buôn người vẫn rất nhức nhối và khó có thể thay đổi trong một thời gian ngắn do hậu quả của sự chênh lệnh trình độ phát triển và các nhóm tội phạm xuyên quốc gia. An ninh lương thực khả năng ứng phó với dịch bệnh ở cấp độ toàn cầu và khu vực vẫn là nỗi lo của mọi quốc gia.
Đặc biệt, đại dịch Covid-19 đã tác động và ảnh hưởng vô cùng to lớn mang lại hậu quả phức tạp đến toàn cầu. Một thảm họa về y tế đã dẫn đến suy thoái trầm trọng về kinh tế toàn cầu, đe dọa nền chính trị và an ninh quốc tế. Sự thay đổi trong tương quan quyền lực giữa các nước lớn Các cường quốc như Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và Australia tiếp tục có những điều chỉnh chiến lược, tạo ra ảnh hưởng lớn đến môi trường, quan hệ quốc tế, đặc biệt là vành đai Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Vai trò của 12 các nước này đang ngày càng tăng trong tiến trình định hình trật tự mới, cục diện mới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Nga từng bước khôi phục vị thế cường quốc và đạt được những thành công chiến lược rất quan trọng trong thời gian qua, cho thấy ý chí hồi sinh, quyết tâm vượt qua khó khăn, giành lại vị thế trên bàn cờ thế giới. Đặc biệt, Nga đầu tư rất lớn cho quốc phòng, tiếp tục hiện đại hóa quân đội và ưu tiên cho các khả năng chiến lược, tăng cường hiện diện quân sự tại không gian hậu Xô viết và Trung Đông, cạnh tranh vị trí số 1 với Mỹ về xuất khẩu vũ khí. Về chính trị, Nga trở lại vị trí dẫn dắt ngăn chặn Mỹ tại một số diễn đàn quốc tế chủ chốt, đặc biệt tại những khu vực ưu tiên chiến lược như Á - Âu và Trung Đông. Như vậy, lợi ích, ảnh hưởng của Nga trong khu vực tiếp tục gia tăng thông qua nỗ lực vươn ra ngoài và hiện đại hóa quân sự… để đạt được ảnh hưởng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Nhật Bản tiếp tục là nước có trình độ phát triển cao nhất châu Á, chỉ số công nghệ, khoa học kỹ thuật đứng thứ hai thế giới. Về quốc phòng, Nhật Bản không chỉ dựa vào sự bảo trợ của Mỹ mà còn chủ động phát triển sức mạnh quân sự vượt ngoài nhu cầu phòng vệ với ngân sách quân sự đứng hàng thứ tư thế giới; giải thích lại Hiến pháp để tiến tới thành lập lực lượng quân đội bình thường; liên tục tăng ngân sách quốc phòng trong những năm gần đây (năm 2019 là 47,3 tỷ USD, năm 2020 là 48,5 tỷ USD, cao kỷ lục so với thời gian trước đây). Về chính trị, Nhật Bản thúc đẩy chính sách “Chủ nghĩa hòa bình tích cực”, tìm kiếm các liên kết mới, nâng cao vai trò trong các cơ chế quốc tế, hướng tới mục tiêu trở thành cường quốc toàn diện; giành vai trò chủ động ở châu Á và tạo thế canh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc; từng bước độc lập, thoát ly khỏi sự bảo trợ của Mỹ, nhất là trong bối cảnh Mỹ đang điểu chỉnh chính sách đối với đồng minh và can dự khu vực. Từ năm 2007, Nhật Bản đã đưa ra sáng kiến thành lập nhóm “Bộ tứ” gồm Mỹ - Nhật Bản - Ấn Độ 13 - Australia trong vành đai Ấn - Thái từ năm 2017, sáng kiến này được thúc đẩy mạnh mẽ.
Sau khi Mỹ rút khỏi TPP, Nhật Bản đi đầu thúc đẩy CPTPP. Australia đã có những điều chỉnh quan trọng về tư duy chiến lược trong thời gian gần đây, từ chỗ đặc biệt coi trọng quan hệ song phương với Trung Quốc và từ chối tham gia sáng kiến của Nhật Bản thiết lập “Bộ tứ” trong vành đai Ấn - Thái năm 2007, đến nay Australia tham gia tích cực, thậm chí đi đầu trong xu hướng tập hợp lực lượng với mục tiêu thúc đẩy hợp tác khu vực đồng thời ngăn chặn Trung Quốc, bảo vệ những lợi ích cốt lõi của Australia bị đe dọa trước chính sách bành trướng của Trung Quốc, đặc biệt tại Biển Đông. Đồng thời Australia cũng đẩy mạnh triển khai chính sách “hướng Bắc” lấy Đông Nam Á làm trọng tâm, quyết tâm thúc đẩy CPTPP, cho phép Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự trên lãnh thổ của mình. Về kinh tế, Australia tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định từ năm 2014 đến nay với mức tăng GDP trên 1,2%/năm.
Về quốc phòng, Australia tăng cường ngân sách cho quốc phòng những năm gần đây, năm tài khóa 2016 - 2017 ở mức 25,27 tỷ USD, năm 2017 - 2018 là 27,07 tỷ USD, năm 2020 - 2021 là 42,7 tỷ AUD, tương đương 2,19% GDP; thúc đẩy hợp tác an ninh, quân sự với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ.