CHƯƠNG 1: CƠ SỞ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ CỦA ẤN ĐỘ VỚI ASEAN 1. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ 1. Tiền đề của sử điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ Thứ nhất, là dựa trên xu thế chung trong quan hệ quốc tế và các vấn đề toàn cầu Năm 1991 là năm đánh dấu cho sự thay đổi trong lịch sử chính sách ngoại giao và ngoại giao kinh tế của Ấn Độ trong bối cảnh hậu Chiến tranh lạnh. Chiến tranh Lạnh kết thúc, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết tan rã, những thay đổi to lớn từ tình hình quốc tế đã tác động và tạo ra những xu thế mới trong quan hệ quốc tế.
Thế giới thay đổi sau khi trật tự hai cực tan rã. Sau chiến tranh Lanh, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới và nhiều trung tâm quyền lực khác nổi lên nhưng chưa thể đối trọng được với sức mạnh của Mỹ. Trong lĩnh vực an ninh, nhờ vào sự giảm thiểu đáng kể vũ khí hạt nhân chiến lược,thế giới đang chuyển đổi từ răn đe bằng chiến tranh hạt nhân sang răn đe bằng vũ khí thông thường trên cấp độ toàn cầu. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, do lo sợ về học thuyết “cùng tận diệt” từ cả hai cực khiến cho chiến tranh khó xảy ra hơn và biện pháp răn đe bằng hạt nhân phát huy hiệu quả.
Quá trình chạy đua vũ trang hạt nhân, khiến cả hai siêu cường luôn ở thế cân bằng và bản thân hai siêu cường cũng lo sợ về khả năng hủy diệt của vũ khí hạt nhân, nên đều có động cơ để kiểm chế lại đối thủ. Vào giữa những năm 1980, Mikhail Gorbachev đã đưa ra chính sách tái cơ cấu (perestroika) và công khai (glasnost), đặt nền móng cho việc xác định lại những ưu tiên trong nước và các mối quan hệ quốc tế. Trên thực tế, giới lãnh đạo Liên Xô đã đưa ra các sáng kiến nhằm cải thiện quan hệ với Mỹ. Những nỗ lực của Liên Xô được thể hiện rõ nhất bằng Hiệp ước cắt giảm các tên lửa tầm ngắn và tầm trung năm 1987.
Đầu tháng 6/1990, Tổng thống Mỹ George Bush đã có quyết định mang tính lịch sử tại Washington, cắt giảm nhiều vũ khí hạt nhân chiến lược và một số 19 z kho vũ khí hóa học. Các nước thành viên của NATO và hiệp ước Warsaw cũng đã ký hiệp định tạo điều kiện cho việc cắt giảm đáng kể lượng vũ khí ở châu Âu. Do chiến tranh Lạnh kết thúc, xu hướng phân cực nổi lên, với Mỹ là siêu cường duy nhất. Thế giới có xu thế hòa dịu hơn khi mối đe dọa về nguy cơ chiến tranh hạt nhân dần được giảm bớt.
Nhưng đồng thời, sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cực đoan và những tranh chấp về sắc tộc ở một số nơi trên thế giới đã trở thành mối đe dọa đối với hòa bình quốc tế. Thách thức an ninh ngắn và dài hạn như xung đột khu vực gia tăng hay vũ khí hủy diệt hàng loạt, sự không ổn định xung quanh quá trình cải cách ở các quốc gia thuộc Liên bang Xô Viết cũ và các quốc gia từng đi theo chế độ Xã hội chủ nghĩa. Khía cạnh an ninh đang dần được mở rộng bao gồm các vấn đề như phát triển quốc gia, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, bảo vệ môi trường, thúc đẩy dân chủ và nhân quyền. Trong lĩnh vực kinh tế, ba cực chính về kinh tế vẫn là Liên minh châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Á.
Mỗi khu vực này chiếm khoảng ¼ tổng lượng GDP toàn cầu. Sau chiến tranh lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi sức lực vào ưu tiên phát triển kinh tế. Trong thời điểm hiện nay, kinh tế trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong đọ sức giữa các cường quốc. Những cân nhắc về địa - kinh tế trên mức độ nào đó đã vượt quá tính toán về địa - chính trị.
Các nước ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, sức mạnh của mỗi quốc gia là một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính lành mạnh và một nền công nghệ có trình độ cao và đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia. Toàn cầu hóa trong lĩnh vực kinh tế cũng là một xu thế quan trọng khác trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Nền kinh tế của các quốc gia không còn hoạt động tự túc trong phạm vi quốc gia mình. Sự phát triển mạnh mẽ của nên thương mại thế giới làm cho nền kinh tế của các nước quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, tính quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới tăng lên, thể hiện đặc biệt rõ trong vai trò ngày 20 z càng lớn của các công ty xuyên quốc gia.
Điều này thúc đẩy hầu hết các nước, kể cả các nước lớn điều chỉnh chiến lược, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế với bên ngoài. Về mặt tư tưởng, có sự xuất hiện ngày càng phổ biến các quan điểm về tính dân chủ trong thị trường, xã hội dân sự, sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính phủ, nền kinh tế thị trường. Sự sụp đổ của hệ thống Liên bang Xô Viết, đã để lại cho Mỹ và các đồng minh bài học quan trọng trong việc hoạch định chính sách. Nguyên tắc trong thị trường, tài sản tư và cạnh tranh được coi là nhân tố thiết yếu duy trì sức khỏe của nền kinh tế.
Các tiêu chuẩn và thể chế liên kết trong xã hội phương Tây thời kỳ chiến tranh Lạnh sẽ không thể đáp ứng với bối cảnh mới và chắc chắn sẽ trải qua sửa đổi để hoàn thiện. Chính trị quốc tế sẽ bị tác động bởi những tư tưởng như trên nhưng sẽ không thống trị ở mức độ tương tự như hệ tư tưởng của hai cực trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Các học giả sẽ tiếp tục định hình và làm rõ các định hướng trong lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị nhưng chắc chắn sẽ trong một bầu không khí cởi mở và linh hoạt hơn. Các nước bao gồm cả những nước lớn đều chủ động và tích cực mở rộng quan hệ với tất cả những chủ thể có khả năng hợp tác hiệu quả, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau nhằm xác lập các điều kiện quốc tế có lợi hơn, mở rộng hệ thống an ninh quốc gia, tạo ra bối cảnh quốc tế để phát triển kinh tế trong nước.
Điều này trở thành một đòi hỏi khách quan, tất yếu của môi trường toàn cầu mới dưới tác động của khoa học – công nghệ đưa đến sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hóa. Tóm lại, sự hợp tác xảy ra đồng thời với sự cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc thế giới và khu vực, nhằm tăng cường sức mạnh quốc gia cũng như ảnh hưởng đối với nhau, đối với các khu vực và các nước yếu hơn trong tiến trình điều chỉnh quan hệ giữa các nước lớn. Quá trình này càng làm cho toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra nhanh hơn, đồng thời thúc đẩy sự phụ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích quốc gia của các nước với 21 z nhau; do đó giảm thiểu nguy cơ chiến tranh và xung đột, khuyến khích xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh hòa bình. Trong tiến trình phát triển, thế giới và bản thân Ấn Độ cũng phải đối mặt với những thách thức từ các vấn đề toàn cầu, chi phối việc hoạch định chính sách đối ngoại.
Vấn đề giải trừ quân bị: chính sách giải trừ quân bị của Ấn Độ hướng đến một thế giới không có vũ khí hủy diệt hàng loạt bao gồm cả vũ khí hạt nhân. Ấn Độ công khai ủng hộ giải trừ quân bị không phân biệt đối xử ở cấp toàn cầu và phải có thời hạn, tiến hành theo từng giai đoạn và phương thức kiểm tra. Ấn Độ thể hiện rõ quan điểm này trong Kế hoạch Hành động của Rajiv Ganghi mà Ấn Độ trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc (UNGA) năm 1998. Trong bối cảnh đó, những vấn để nổi cộm trong tiến trình phát triển suốt thập kỷ đầu của thế kỷ XXI nảy sinh từ việc Ấn Độ từ chối ký kết NPT, Ấn Độ chứng minh rõ ràng cam kết không phổ biến vũ khí hạt nhân thông qua một loạt hành động và thay đổi chính sách.
Ấn Độ thiết lập các cơ sở hạt nhân dân dụng tuân theo quy định an toàn của IAEA, ký kết Nghị định bổ sung với IAEA, xây dựng hệ thống luật kiểm soát xuất khẩu tương ứng với luật của NGS và đưa chính sách của Ấn Độ tương đồng với tinh thần của NPT dù không chính thức tham gia vào Hiệp ước. Yếu tố cốt yếu trong học thuyết hạt nhân của Ấn Độ (được tiết lộ thông qua Thông cáo báo chí Chính phủ vào ngày 4 tháng 1 năm 2003) là xây dựng và duy trì một “hàng rào tối thiểu đáng tin cậy” cụ thể là: i) "No First Use" tức là vũ khí hạt nhân sẽ chỉ được sử dụng để trả đũa cho một cuộc tấn công hạt nhân trên lãnh thổ Ấn Độ hoặc các lực lượng quân đội của Ấn Độ; ii) Không sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các quốc gia không sở hữu vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, trong trường hợp có một cuộc tấn công lớn chống lại Ấn Độ, hoặc các lực lượng quân đội Ấn Độ ở bất cứ nơi nào kể cả bằng vũ khí sinh học hoặc hóa học, Ấn Độ sẽ vẫn có thể trả đũa bằng vũ khí hạt nhân. 22 z Về chủ nghĩa khủng bố: Ấn Độ đã là nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố trong hàng thập kỷ.
Ngay sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Ấn Độ phải đối mặt với tình hình trong nước không ổn định với mối đe dọa khủng bố ở Punjab, Jammu & Kashmir. Mặc dù, những vụ khủng bố ở bang Punjab bắt đầu có dầu hiệu lắng xuống vài cuối nhừng năm 1992, nhưng số lượng các vụ nổ do những kẻ khủng bố gây ra vẫn tiếp tục diễn ra ở Janmu và Kashmir.542 các vụ khủng bố với 9.863 kẻ khủng bố bị bắt và một số lượng lớn vũ khí, thuốc nổ được các lực lượng Janmu và Kashmir thu giữ 2. Nguy hại hơn, theo phía Ấn Độ, hầu hết các vụ khủng bố diễn ra ở Janmu và Kashmir lại đều do phía Pakistan hậu thuẫn3.