Chương 1. Cơ sở hình thành và những nhân tố quy định vai trò của Việt Nam trong Chính sách hướng Đông Chương 2. Nội dung Chính sách hướng Đông của Ấn Độ đối với Việt Nam Chương 3. Tác động của Chính sách hướng Đông đối với mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam và triển vọng của nó 8 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ QUY ĐỊNH VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG CHÍNH SÁCH HƢỚNG ĐÔNG 1.
Một số khái niệm, thuật ngữ Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung Chính sách hướng Đông của Ấn Độ đối với Việt Nam, chúng ta cần làm sáng tỏ nội hàm một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, làm phương pháp luận cho quá trình nghiên cứu. - Thuật ngữ “Chính sách”: Theo Từ điển Lịch sử phổ thông, Chính sách là chủ trương cụ thể của một Đảng hay Chính phủ về nhiệm vụ: chiến tranh kinh tế, chính sách ngoại giao. Như vậy, Chính sách là sự thể hiện ý chí của một Đảng, Chính phủ về một nhiệm vụ nào đó, được hoạch định một cách rõ ràng, có mục tiêu lâu dài và cụ thể.
- Thuật ngữ “Chính sách đối ngoại”(Foreign policy): Theo Sổ tay thuật ngữ Quan hệ quốc tế, Chính sách đối ngoại của một quốc gia là tập hợp các chiến lược mà quốc gia đó sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa - xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau phù hợp với lợi ích quốc gia đó [8; 49]. Chính sách đối ngoại thường được coi là cánh tay nối dài của chính sách đối nội, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đạt được sự thịnh vượng về kinh tế, hay bảo vệ và tối đa hóa lợi ích quốc gia nói chung, thông qua các con đường như hợp tác, cạnh tranh, xung đột hoặc thậm chí chiến tranh. Vai trò của chính sách đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không một quốc 9 gia nào có thể tồn tại biệt lập và sự giao lưu, hợp tác ngày càng được chú trọng. Chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia thường được hoạch định bởi bộ máy chính phủ cao nhất của quốc gia.
Mỗi quốc gia khác nhau, mỗi thể chế chính trị khác nhau lại có các cấu tạo bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại khác nhau. Nhìn chung, các nhân tố chủ chốt quyết định chính sách đối ngoại của một quốc gia bao gồm: Thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế Tình hình chính trị và an ninh thế giới Mục tiêu quốc gia mong muốn đạt được Ảnh hưởng của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại Các nhân tố chính trị nội bộ (các nhóm lợi ích…) - Thuật ngữ “Chính sách hướng Đông”: Chính sách hướng Đông (Look East Policy) hay Chiến lược hướng Đông (Look East Strategy) không phải là chính sách của riêng Ấn Độ. Trước đây, ngay từ thời cổ đại, các nước phương Tây đã thực thi Chính sách hướng Đông trong quá trình Đông tiến và trong các hoạt động giao lưu văn hóa và thương mại với các nước phương Đông. Trong suốt quá trình lịch sử, các nước phương Đông đều có Chính sách hướng Đông, tuy mức độ khác nhau.
Ngay từ thời cổ đại, các nước phương Tây thông qua “con đường tơ lụa” để thiết lập buôn bán với phương Đông. Bước sang thời hậu kỳ trung đại, các nước phương Tây đã hướng về phương Đông - nơi vẫn được coi là xứ sở của sự trù phú và cái nôi của những nền văn minh rực rỡ, tiến hành các cuộc “phát kiến địa lí”, thiết lập các thương điếm buôn bán với các nước 10 phương Đông. Vào đầu thời cận đại, các nước phương Tây hướng về phương Đông, đua nhau bành trướng, xâm chiếm các nước phương Đông làm thuộc địa. Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, Chính sách hướng Đông mang một sắc thái mới, nội dung mới.
Đối diện với Chính sách hướng Đông bằng bạo lực của các nước phương Tây, các nước phương Đông đã anh dũng đứng lên đấu tranh, nhưng kết quả đều bị thất bại và lần lượt biến thành thuộc địa hoặc phụ thuộc vào phương Tây. Riêng Nhật Bản, nhờ kịp thời thực hiện đường lối duy tân, mở cửa nên đã thoát khỏi họa xâm lăng, nhanh chóng trở thành một đất nước “phú quốc cường binh”, là tâm điểm để các nước phương Đông noi theo. Thực tế, nhiều nước phương Đông đã chủ trương học tập Nhật Bản, thực hiện canh tân, cải cách, xây dựng đất nước cường thịnh. Như vậy, nội hàm của hướng Đông lần này là phương Đông nhìn về phương Đông, tức là hướng về Nhật Bản để học hỏi.
Với mục đích đó, các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên đều phát động phong trào Đông Du, đưa hàng trăm, hàng nghìn thanh niên ưu tú sang Nhật học tập, chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. - Chính sách hướng Đông của Ấn Độ: Chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ bắt nguồn từ tư tưởng coi trọng phương Đông và cho rằng vận mệnh của Ấn Độ luôn gắn bó, phụ thuộc vào khu vực này. Thuật ngữ “hướng Đông” gắn liền với tín ngưỡng cổ truyền của người dân Ấn Độ, mỗi buổi sáng khi cầu nguyện luôn hướng về phía mặt trời mọc – hướng về phương Đông để đón nhận những điều tốt lành. Tư tưởng “hướng Đông” của Ấn Độ có từ thời xa xưa.
Ngay từ thời cổ đại, Ấn Độ đã hướng về phương Đông, không phải để học tập phương Đông 11 mà để truyền bá văn hóa, văn minh cho phương Đông. Thành quả lớn nhất của Chính sách hướng Đông là sự truyền bá Đạo Phật rộng rãi sang các nước Đông Á. Sau khi giành độc lập năm 1947, Thủ tướng Jawaharlal Nehru đã tích cực thực thi Chính sách hướng Đông. Tuy nhiên, phải đến năm 1991, sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, Chính sách hướng Đông của Ấn Độ mới trở thành chiến lược quốc gia.
Ngày nay, Chính sách hướng Đông là một bộ phận cốt lõi, nhất quán và liên tục trong đường lối đối ngoại của Ấn Độ. Như vậy, hiểu một cách đơn giản, Chính sách hướng Đông của Ấn Độ là chính sách đối ngoại lấy những quốc gia ở phía Đông Ấn Độ làm trung tâm. Đông Nam Á là khu vực nằm ở phía Đông của Ấn Độ, có mối liên hệ chặt chẽ về địa lí, lịch sử và văn hóa, vì thế tình hình an ninh của khu vực Đông Nam Á cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đến an ninh Ấn Độ. Mặt khác, sự phát triển kinh tế năng động của khu vực Đông Nam Á đã tạo ra sự hấp dẫn đối với Ấn Độ, nhất là trong chiến lược phát triển vùng Đông Bắc Ấn Độ.
Do đó, Ấn Độ tiến hành Chính sách hướng Đông nhằm thiết lập và phát triển mối quan hệ với các quốc gia láng giềng ở phía Đông, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á trong tổng thể chính sách đối ngoại với toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong số các quốc gia thành viên ở khu vực, Việt Nam chiếm giữ vị trí quan trọng, được Ấn Độ xác định là “trụ cột” của Chính sách hướng Đông. Qúa trình hình thành và phát triển Chính sách hƣớng Đông của Ấn Độ Sự ra đời của Chính sách hướng Đông của Ấn Độ bắt nguồn từ nhiều nhân tố. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình trong nước những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế 12 kỷ XX đã buộc Ấn Độ phải tiến hành cải cách toàn diện đất nước, điều chỉnh đường lối đối ngoại, thực thi Chính sách hướng Đông.
Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên Xô và sự tan rã của các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã làm cho Ấn Độ mất đi một chỗ dựa quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng. Tuy là một nước không liên kết nhưng Ấn Độ lại có nhiều quan điểm gần gũi với Liên Xô, vì thế hai bên đã kí kết Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác vào năm 1971. Điều đó cho thấy về mặt chính trị, quan hệ Ấn - Xô là quan hệ đồng minh chiến lược. Về mặt kinh tế, cũng như quân sự thì Liên Xô là một chỗ dựa vững chắc của Ấn Độ, các nhà máy chủ chốt trong nền công nghiệp của Ấn Độ phần lớn được xây dựng dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, đồng thời đó còn là thị trường xuất khẩu lớn, nơi viện trợ tài chính, cung cấp các loại vũ khí và thiết bị quân sự, giúp đào tạo nguồn nhân lực cho Ấn Độ.
Vì vậy, sự sụp đổ của Liên Xô đã tác động mạnh mẽ tới tình hình kinh tế vốn gặp rất nhiều khó khăn và tình hình chính trị đang có nhiều bất ổn của Ấn Độ ở cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Đây có thể coi là nhân tố quyết định việc Ấn Độ phải tiến hành cải cách toàn diện, hướng tầm nhìn về phía Đông, tìm kiếm sự hợp tác với các đối tác mới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh trật tự thế giới hai cực đã tan dã, quan hệ quốc tế cũng chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại, xu hướng đa dạng hoá, đa phương hoá trong tiến trình hội nhập toàn cầu trở nên phổ biến. Hoà bình, ổn định hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia.
Toàn cầu hóa kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia, kinh tế được ưu tiên phát triển và trở thành chủ đề chính trong quan hệ quốc tế. Trước bối cảnh quốc tế và xu thế chung đó của thế giới, các quốc gia đều phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của mình để thích ứng với tình hình mới. Ấn Độ cũng không nằm ngoài xu thế đó. 13 Thứ hai, Chiến tranh lạnh kết thúc hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã và trật tự hai cực cũng không còn đã khiến cho Phong trào Không liên kết (NAM) tạm thời lắng xuống.
Vị thế của Ấn Độ với tư cách là một trong những nước lãnh đạo của phong trào này do đó cũng bị giảm đi so với những năm đầu thành lập của phong trào. Hơn nữa, quan hệ giữa các nước thành viên NAM chủ yếu là quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế không thực sự lớn.