CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA GIỮA NHẬT BẢN – VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về ngoại giao văn hóa Ngoại giao văn hóa (Cultural diplomacy) (NGVH) dưới góc độ quan hệ quốc tế có thể khái quát như sau. Ngoại giao văn hóa là hình thức ngoại giao sử dụng các phương tiện văn hóa để thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại nhằm đạt được các lợi ích cơ bản của quốc gia. Ngoại giao văn hóa sử dụng văn hóa như một công cụ và phương tiện để đạt được các mục tiêu của chính sách đối ngoại. Và ngoại giao văn hóa giúp làm cho nền văn hóa của một quốc gia được thế giới biết đến, nâng cao hình ảnh và uy tín của một quốc gia, đồng thời thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia.
Nhiều nhà nghiên cứu và học giả đã đưa ra những định nghĩa tổng thể và chức năng của ngoại giao văn hóa. Theo nhà nghiên cứu người Mỹ Milton Cummings – giáo sư Đại học John Hopkins, ngoại giao văn hóa được coi là “sự giao lưu về ý tưởng, thông tin, nghệ thuật và những khía cạnh khác của văn hóa giữa các quốc gia cũng như giữa người dân của các quốc gia này nhằm nuôi dưỡng sự thấu hiểu chung.” Còn theo Juliet Sablowsky thuộc Đại học Goergetown thì ngoại giao văn hóa là “sự đầu tư mang tính lâu dài, được tiến hành nhằm thúc đẩy quan hệ giữa chúng ta với nhân dân các nước khác, để thúc đẩy hiểu biết hai bên, để nhân dân các nước hiểu tốt hơn về lợi ích và chính sách quốc gia của chúng ta”. Học giả người Nhật Kazuo Ogura cho rằng “Ngoại giao văn hóa của một quốc gia là tận dụng văn hóa với mục đích nâng cao sức ảnh hưởng chính trị của quốc gia 11 đó”. Nhật Bản hàng năm công bố về các đường lối, chính sách ngoại giao của chính phủ từ năm 1957 đến nay.
Năm 2005 cụm từ “ngoại giao văn hóa” mới xuất hiện nhiều hơn, còn trong những hoạt động trước đó thường sử dụng các cụm từ như “giao lưu văn hóa quốc tế”, “giao lưu quốc tế”, “giao lưu văn hóa”. Trên trang chính của Bộ Ngoại giao, Nhật Bản khẳng định việc chính phủ tăng cường ngoại giao văn hóa – truyền thông là bởi nhiều học giả đã chỉ ra tầm quan trọng của “ngoại giao công chúng” và “sức mạnh mềm”. Từ đó cho thấy, hai lý thuyết này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới ngoại giao văn hóa Nhật Bản hiện đại. Ngoại giao công chúng (Public Diplomacy) là một lĩnh vực của quan hệ quốc tế vượt ra ngoài khuôn khổ của ngoại giao truyền thống: định hướng dư luận của chính phủ ở các nước khác sự tương tác giữa các nhóm lợi ích phi chính phủ của nước này với nước khác; tuyên truyền về công tác đối ngoại và tác động của nó đến chính sách.
Ngoại giao công chúng cũng là cách tiếp cận đa văn hóa, học hỏi lẫn nhau dựa trên đối thoại. Nhiệm vụ của ngoại giao công chúng là chuyển tải thông tin về chính sách nhằm thu hút, thuyết phục đối tượng và xây dựng các mối quan hệ tin cậy, cấu trúc xã hội để thúc đẩy các mục tiêu chính sách. Ngoại giao công chúng cũng nhằm phát huy “sức mạnh mềm” của một nước và hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước. Cull, ngoại giao công chúng được phân loại bởi 5 yếu tố: Lắng nghe, tuyên truyền chính sách, ngoại giao văn hóa, ngoại giao lưu và phát sóng quốc tế.
Theo như cách phân loại này thì ngoại giao văn hóa là một bộ phận của ngoại giao công chúng. Chính sách ngoại giao văn hóa Nhật Bản được xem xét như một trong những cách thực hiện ngoại giao công chúng khi chính sách này hướng tới đối tượng chủ yếu là công chúng. Chủ thể tiến hành chính sách này là Bộ Ngoại giao Nhật Bản chủ yếu là thông qua Qũy Giao lưu Quốc tế Nhật Bản. Mục tiêu của nó là không chỉ nhằm cải thiện hình ảnh mà còn tạo sự của các nước đối với Nhật Bản.
Có thể hiểu gọn chính sách ngoại giao văn hóa của Nhật Bản là tổng thể các hoạt động ứng xử, giao lưu, hợp tác về văn hóa của 12 Nhật Bản với các nước khác với mục tiêu là nhằm tăng cường sự hiểu biết với các quốc gia láng giềng, giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của mình tới toàn thế giới, tạo sức mạnh mềm để đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị. Ngoài ra, chính sách này còn nhấn mạnh vào sự quan trọng của di sản văn hóa, góp phần làm phong phú cho văn hóa nhân loại và thúc đẩy sự cộng sinh và đối thoại giữa các nền văn hóa khác nhau. Chính sách này được ban hành với ba trụ cột của NGVH Nhật Bản là truyền bá văn hóa, hấp thu văn hóa và cộng sinh văn hóa. Truyền bá văn hóa là việc giới thiệu và quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của Nhật Bản tới thế giới.
Hấp thu văn hóa là việc tiếp nhận và coi trọng các nền văn hóa khác nhau. Cộng sinh văn hóa là việc xây dựng một xã hội đa dạng và phong phú trong đó các nền văn hóa có thể tồn tại song song và giao lưu lẫn nhau. Ở Việt Nam, khái niệm ngoại giao văn hóa được nhìn nhận khá khác biệt, có khác và có tương đồng. Ở góc độ ngoại giao, ngoại giao văn hóa được coi là một hình thức ngoại giao thông qua văn hóa để thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại.
1 Vụ Văn hóa Bộ Ngoại giao Việt Nam và UNESCO định nghĩa ngoại giao văn hóa là các hoạt động đối ngoại do nhà nước tổ chức, tài trợ và bảo trợ, được thực hiện trong những thời kỳ cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu chính trị và đối ngoại cụ thể bằng các loại hình văn hóa như nghệ thuật, lịch sử, tư tưởng, truyền thống, ẩm thực, điện ảnh, xuất bản và văn học.2 Ở góc độ văn hóa, có quan điểm cho rằng, ngoại giao văn hóa sử dụng các phương tiện văn hóa để đạt được mục tiêu ngoại giao, ngoại giao là hoạt động đặc thù dùng để đánh giá cao vẻ đẹp của văn hóa. Cách nhìn nhận, quan điểm ngoại giao văn hóa ở Việt Nam có nhiều xuất phát điểm khác nhau nên sẽ tương đối đa. Ngay trong “Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến 1 Phạm Sanh Châu. ‘Ngoại giao văn hóa – Một trụ cột quan trọng nền ngoại giao toàn diện Việt Nam’.
Tạp chí đối ngoại, số 3-2009, truy cập ngày 20.2023 2 Bộ Ngoại Giao: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội, 1995, 18. 13 năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2011 cũng nêu rõ: “Ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị là ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của Việt Nam”. Với những điểm nêu trên, cách tiếp cận ngoại giao văn hóa của Việt Nam có thể được hiểu như sau. Thứ nhất, đó là một hình thức ngoại giao sử dụng các công cụ văn hóa.
Thứ hai, thực hiện các lợi ích cơ bản của nhà nước: phát triển, an ninh và ảnh hưởng, đồng thời tôn trọng các giá trị văn hóa. Thứ ba, là kênh ngoại giao hiệu quả để gia tăng sức mạnh mềm. Xây dựng niềm tin và quảng bá hình ảnh quốc gia. Thứ tư, là kênh tiếp thu văn hóa nhân loại và làm phong phú, giàu có thêm nền văn hóa nước nhà.
Thứ năm, nó được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm cả hình thức không chính thức cũng như hình thức chính thức của nhà nước. Thứ sáu, nó có thể được sử dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả lâu dài.2 Khái niệm về quyền lực mềm Trong những năm gần đây cụm từ “quyền lực mềm” trở nên phổ biến và có sức ảnh hưởng lớn đến nhiều hoạt động, biến đổi trên toàn Thế giới. Có nhiều học giả quan tâm đến khái niệm này “Quyền lực mềm là khả năng ảnh hưởng đến người khác bằng cách sử dụng sức hút văn hóa, giá trị và chính sách thay vì sử dụng quân sự hay kinh tế”. Quyền lực mềm có thể giúp một quốc gia hay tổ chức thu hút được sự ủng hộ và hợp tác của người khác” Theo như Giáo sư Joshef S.
Nye của Đại học Havard (Mỹ) người đưa ra khái niệm này đầu tiên.3 “Quyền lực mềm” Có tác dụng rất lớn trong thế giới hiện đại, khi mà các quốc gia và tổ chức cần hợp tác với nhau về những thay đổi cục diện an ninh, biến đổi khí hậu, phát triển. Quyền lực mềm giúp tạo ra sự tin tưởng, lòng tin và sự ủng hộ từ người khác. Đôi nét về “Quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, truy cập ngày 20/07/2023 http://tapchiqptd.vn/vi/an-pham-tap-chi-in/doi-net-ve-quyen-luc-mem-trong-quan-he-quoc- te/3410.html 14 Quyền lực mềm cũng giúp thể hiện bản sắc và giá trị của một quốc gia hay tổ chức. Đo lường quyền lực mềm không phải là một việc dễ dàng, vì nó liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau và có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh và đối tượng.
Một số cách đo lường quyền lực mềm có thể là: xem xét sự hài lòng và tin tưởng của người khác đối với một quốc gia hay tổ chức; xem xét sự thu hút của văn hóa, giáo dục, du lịch, xuất khẩu. của một quốc gia hay tổ chức; xem xét sự ảnh hưởng của một quốc gia hay tổ chức trong các diễn đàn quốc tế và khu vực. Chúng ta có một số ví dụ điển hình để hiểu rõ hơn về khái niệm này như: - Ảnh hưởng về văn hóa, lịch sử và ngoại giao quốc gia: sự hấp dẫn của Hollywood, Disney, K-pop, giá trị của UNESCO. - Sức hấp dẫn của các giá trị, tư tưởng và lý tưởng của một quốc gia: Dân chủ, nhân quyền, Tự do.
- Khả năng kiểm soát hành vi của người khác bằng sự thu hút và thuyết phục: Đàm phán, Hợp tác, Truyền thông. Trái với quyền lực mềm chính là “Quyền lực cứng” là sự sử dụng các biện pháp quân sự và đôi lúc là kinh tế nhằm tác động đến hành vi ứng xử hoặc mối quan tâm của các thực thể chính trị khác. Quyền lực cứng dựa vào sự đe dọa và dụ dỗ. Ví dụ như: Can thiệp quân sự, trừng phạt các hoạt động liên quan đến kinh tế hay giảm rào cản thương mại.Các thành tố của sức mạnh cứng bao gồm những thứ cơ bản như (tài nguyên cơ bản của quốc gia, lực lượng quân sự, lực lượng và tiềm lực kinh tế) vốn đã được các cường quốc vận dụng từ xưa để phô trương sức mạnh hay xâm phạm các nước khác.