Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về khuyến học tại Nghệ An

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về khuyến học tại Nghệ An, khám phá giá trị văn hóa và giáo dục trong lịch sử địa phương.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

175
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH ẢNH TRONG LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Khái niệm khuyến học, tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

1.2. Khái niệm khuyến học

1.3. Khái niệm tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

1.4. Khái lược quá trình phát triển của khuyến học

1.5. Giới thiệu về địa giới hành chính tỉnh Nghệ An

1.6. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.7. Tình hình nghiên cứu khuyến học ở một số nước phương Đông

1.8. Tình hình nghiên cứu khuyến học ở Việt Nam

1.9. Nghiên cứu về khuyến học của Nghệ An

1.10. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.11. Định hướng nghiên cứu của luận án

1.12. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ KHUYẾN HỌC CỦA NGHỆ AN

2.1. Thực trạng nguồn tư liệu

2.2. Nguồn tư liệu thư tịch

2.3. Nguồn tư liệu văn bia

2.4. Một số đặc điểm văn bản tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

2.5. Định dạng văn bản

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ KHUYẾN HỌC CỦA NGHỆ AN

3.1. Nội dung khuyến học qua tư liệu Hán Nôm của Nghệ An

3.2. Dựng trường, mở lớp

3.3. Chế độ khen thưởng

3.4. Chế tài xử phạt

3.5. Đặc điểm nội dung tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

3.6. Khuyến học của Nghệ An gắn liền với nền giáo dục khoa cử Nho học, trọng Nho học truyền thống

3.7. Nội dung khuyến học đa dạng, phong phú

3.8. Nội dung khuyến học mang tính linh hoạt, phù hợp với thời cuộc

3.9. Nội dung khuyến học mang tính đặc điểm vùng

3.10. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ KHUYẾN HỌC CỦA NGHỆ AN VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TƯ LIỆU ĐỐI VỚI KHUYẾN HỌC HIỆN NAY

4.1. Giá trị tư liệu Hán Nôm về nghiên cứu khuyến học của Nghệ An

4.2. Những giá trị nhân văn của tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

4.3. Một số hạn chế về tư tưởng khuyến học của Nghệ An xưa trong bối cảnh hiện nay

4.4. Bảo tồn và phát huy giá trị tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An đối với khuyến học hiện nay

4.5. Thực trạng khuyến học và việc bảo lưu nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học Nghệ An hiện nay

4.6. Một số vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An trong xã hội hiện nay

4.7. Tiểu kết chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Khuyến học là một khái niệm quan trọng trong văn hóa giáo dục Việt Nam, đặc biệt tại Nghệ An. Tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Các tác giả đã chỉ ra rằng khuyến học không chỉ là một chính sách mà còn là một nhu cầu thực tiễn trong đời sống văn hóa giáo dục. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về khuyến học mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Các tài liệu Hán Nôm chứa đựng nhiều thông tin quý giá về lịch sử giáo dục và khuyến học tại Nghệ An, từ đó tạo ra nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.

1.1. Khái niệm khuyến học

Khuyến học được hiểu là việc khuyến khích và tạo điều kiện cho việc học tập. Theo từ điển Từ nguyên, khuyến học có nghĩa là cổ vũ, khích lệ việc chăm chỉ học tập. Tại Nghệ An, khuyến học đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa địa phương, thể hiện qua nhiều hình thức như dựng trường, mở lớp và chế độ khen thưởng. Những chính sách này không chỉ thúc đẩy việc học mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực cho thế hệ trẻ.

1.2. Tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

Tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An rất phong phú và đa dạng. Các tài liệu này không chỉ bao gồm các văn bản lịch sử mà còn chứa đựng những quy định, chính sách khuyến học cụ thể. Việc nghiên cứu các tư liệu này giúp làm sáng tỏ những giá trị văn hóa và giáo dục của Nghệ An trong quá khứ. Những tài liệu này cũng phản ánh sự quan tâm của cộng đồng đối với việc học tập và phát triển nhân tài, từ đó tạo ra những bài học quý giá cho công tác giáo dục hiện nay.

II. Khảo sát nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

Khảo sát nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An cho thấy sự phong phú và đa dạng của các tài liệu này. Nguồn tư liệu chủ yếu bao gồm thư tịch và bi ký, được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các thư viện khác. Những tài liệu này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang lại những thông tin quý báu về các chính sách khuyến học trong quá khứ. Việc phân tích các tài liệu này giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và văn hóa của Nghệ An, từ đó rút ra những bài học cho công tác giáo dục hiện nay.

2.1. Thực trạng nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An hiện đang được lưu trữ tại nhiều cơ sở khác nhau. Các tài liệu này bao gồm các văn bản cổ, bi ký và các tài liệu liên quan đến giáo dục. Việc khảo sát và thống kê các tài liệu này là rất cần thiết để có cái nhìn tổng quan về tình hình khuyến học tại Nghệ An. Những tài liệu này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.

2.2. Đặc điểm văn bản tư liệu Hán Nôm

Đặc điểm của các văn bản tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An rất đa dạng. Các văn bản này có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí như loại hình, thời gian và không gian. Việc phân tích các đặc điểm này giúp làm rõ hơn về nội dung và giá trị của các tài liệu. Những văn bản này không chỉ phản ánh quan điểm của xã hội về giáo dục mà còn thể hiện những chính sách cụ thể nhằm khuyến khích việc học tập trong cộng đồng.

III. Nội dung và đặc điểm tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

Nội dung của tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An rất phong phú, bao gồm nhiều chính sách và quy định cụ thể. Các tài liệu này thể hiện rõ những nỗ lực của cộng đồng trong việc khuyến khích học tập, từ việc dựng trường, mở lớp đến chế độ khen thưởng cho học sinh xuất sắc. Những nội dung này không chỉ mang tính chất lịch sử mà còn có giá trị thực tiễn trong việc phát triển giáo dục hiện nay. Việc nghiên cứu các nội dung này giúp làm rõ hơn về vai trò của khuyến học trong việc xây dựng nền tảng giáo dục tại Nghệ An.

3.1. Nội dung khuyến học qua tư liệu Hán Nôm

Nội dung khuyến học được ghi chép trong các tư liệu Hán Nôm của Nghệ An rất đa dạng. Các tài liệu này không chỉ đề cập đến việc dựng trường, mở lớp mà còn quy định chế độ khen thưởng cho những học sinh xuất sắc. Những nội dung này thể hiện sự quan tâm của cộng đồng đối với việc học tập và phát triển nhân tài. Việc nghiên cứu các nội dung này giúp làm rõ hơn về những giá trị văn hóa và giáo dục của Nghệ An trong quá khứ.

3.2. Đặc điểm nội dung tư liệu Hán Nôm về khuyến học

Đặc điểm nội dung của tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An thể hiện sự phong phú và đa dạng. Nội dung khuyến học không chỉ mang tính chất chính sách mà còn phản ánh những giá trị văn hóa, xã hội của địa phương. Các tài liệu này cho thấy sự linh hoạt trong việc áp dụng các chính sách khuyến học, phù hợp với bối cảnh xã hội và nhu cầu của cộng đồng. Những đặc điểm này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.

IV. Giá trị tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An và vấn đề bảo tồn phát huy giá trị tư liệu đối với khuyến học hiện nay

Giá trị của tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở ý nghĩa văn hóa, xã hội mà nó mang lại. Những tài liệu này giúp làm rõ hơn về vai trò của khuyến học trong việc phát triển giáo dục và xây dựng nhân tài. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của các tư liệu này là rất cần thiết, không chỉ để gìn giữ di sản văn hóa mà còn để phục vụ cho công tác giáo dục hiện nay. Những chính sách khuyến học trong quá khứ có thể được áp dụng và điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh hiện tại, từ đó tạo ra những giá trị mới cho xã hội.

4.1. Giá trị nhân văn của tư liệu Hán Nôm về khuyến học

Tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An mang lại nhiều giá trị nhân văn. Những tài liệu này không chỉ ghi chép lại các chính sách khuyến học mà còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng đối với việc học tập. Việc nghiên cứu các giá trị này giúp làm rõ hơn về vai trò của khuyến học trong việc xây dựng nền tảng giáo dục và phát triển nhân tài. Những giá trị này cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh hiện nay.

4.2. Bảo tồn và phát huy giá trị tư liệu Hán Nôm về khuyến học

Việc bảo tồn và phát huy giá trị của tư liệu Hán Nôm về khuyến học là rất cần thiết. Các tài liệu này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang lại những bài học quý giá cho công tác giáo dục hiện nay. Cần có những biện pháp cụ thể để bảo tồn các tài liệu này, từ việc số hóa đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về giá trị của khuyến học. Những nỗ lực này sẽ góp phần tạo ra một môi trường học tập tích cực và phát triển bền vững cho thế hệ trẻ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của giai đoạn cải lƣơng hƣơng chính (1919-1921). Đặc biệt khai thác sâu nội dung tƣ liệu, nhƣ tƣ liệu đăng khoa lục, từ thông tin về đăng khoa lục thấy đƣợc ý nghĩa khuyến khích và nêu gƣơng, truyền thống đỗ đạt của địa phƣơng, bổ sung những thông tin hữu ích để chỉnh lý những sự kiện, nhân vật khoa bảng cho chính xác hơn. Khái lƣợc quá trình phát triển của khuyến học Ở Trung Quốc Thời nhà Chu, khuyến học Nho gia trở thành một trong những hệ thống biểu đạt kết hợp giữa tƣ tƣởng với thực tiễn, ngƣời sáng lập là Khổng Tử. Khổng Tử đại biểu cho khuyến học Nho gia thời kỳ sớm nhất, nội dung khuyến học chủ yếu là nhấn mạnh nhân và đức.

Trong tác phẩm Luận ngữ, Khổng Tử đã dùng chính cuộc đời mình để khái quát về việc học “ta 15 tuổi mới chuyên tâm vào việc học, ba mƣơi tuổi mới tự lập, bốn mƣơi tuổi mới thấu hiểu mọi sự lý trong thiên hạ, năm 10 luan an mƣơi tuổi mới hiểu đƣợc mệnh trời, sáu mƣơi tuổi mới có kiến thức và kinh nghiệm hoàn hảo để có thể phán đoán ngay đƣợc mọi sự lý và nhân vật, mà không thấy có điều gì chƣớng ngại khi nghe đƣợc, bảy mƣơi tuổi mới có thể nói hay làm những điều đúng theo ý muốn của lòng mình mà không ra ngoài khuôn khổ đạo lý”. Muốn đạt tới khả năng nhận thức và thực hành, ở mỗi lứa tuổi ngƣời ta phải đƣợc giáo dục và tự mình chuyên tâm vào việc học, học liên tục ngay từ khi còn trẻ cho đến lúc tuổi già. Khuyến học Khổng Tử rất coi trọng việc “lấy mình làm gƣơng”, với việc học “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (học mà thƣờng xuyên luyện tập, chẳng vui lắm sao?”, “học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” (học mà không chán, dạy ngƣời mà không thấy mệt). Thời Chiến quốc, khuyến học của Mạnh Tử phát triển có tính sáng tạo, lấy phƣơng thức đề cao nhân cách cá thể để dẫn dắt chính trị quốc gia.

Để thuận lợi cho việc thực thi khuyến học, Mạnh Tử thẳng thắn cho rằng cần phải tham gia vào chính trị quốc gia, tức làm quan, làm thầy đế vƣơng. Thời Tiên Tần không ít ngƣời đề xƣớng việc học tập, nhƣng phải đến thiên “Khuyến học”của Tuân Tử mới lƣu lại dấu ấn lịch sử sâu sắc. Khuyến học của Tuân Tử là tƣ tƣởng khuyến học tiêu biểu thời kỳ đó, lấy “việc học để cầu tài năng” làm mục tiêu học tập. Thời nhà Hán, khuyến học Nho gia là một biểu hiện của đời Hán, tƣ tƣởng Nho gia trở thành tƣ tƣởng chính trị thống trị quốc gia, Nho học trở thành quan học, đúng với thực tế tên gọi.

Hán học lấy phƣơng thức cổ vũ, khích lệ, kêu gọi mọi ngƣời thông hiểu kinh sử, lấy quan chức để khuyến học, thời kỳ đó dẫn đến không khí Nho học rất sôi nổi. Khuyến học Nho gia thời nhà Hán lấy hình thức chính trị hóa quốc gia nên cổ vũ ngƣời học thông Nho học, Nho điển. Nho sĩ cũng muốn thông qua kinh điển để đƣợc trọng dụng, đƣợc tham gia vào hoạt động chính trị. Thời Minh Thanh, giáo dục nhà trƣờng và khảo thí khoa cử có sự kết hợp mật thiết, đó là biểu hiện chế độ khoa cử giáo dục quốc gia, của khuyến học Nho gia.

11 luan an Ở Việt Nam So với các nƣớc chịu ảnh hƣởng của giáo dục Nho học Trung Hoa, khuyến học ở Việt Nam có ảnh hƣởng lâu dài và liên tục. Tuy nhiên, thể chế, biện pháp khuyến học có sự thay đổi, phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại và tình hình giáo dục khoa cử nƣớc nhà. Thời Bắc thuộc, vào thế kỷ VIII và IX, chữ Hán đƣợc học và sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, ngƣời Việt sử dụng chữ Hán nhƣ chữ viết của mình. Nhờ tinh thần hiếu học, không ít ngƣời Việt có trình độ học vấn cao và thi đỗ trong các kì thi do triều đình phƣơng Bắc tổ chức, nhƣ: Phùng Đái Trí, Khƣơng Công Phụ, Khƣơng Công Phục, Liêu Hữu Phƣơng, v.135], những tấm gƣơng đó có tác dụng cổ vũ, khuyến khích học tập đối với hậu thế.

Triều Lý, năm 1070, triều đình cho dựng Văn miếu ở kinh thành Thăng Long thờ Khổng Tử và các vị Thánh hiền và là nơi học tập của Hoàng thái tử “Năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa thu, tháng Tám dựng Văn miếu, đắp tƣợng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tranh Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng thái tử đến học ở đây”. Nhƣ vậy, ngoài chức năng thờ tự các bậc Tiên Thánh, tiên sƣ của đạo Nho, Văn miếu còn mang chức năng của một trƣờng học hoàng gia. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trƣờng Quốc tử giám ở bên cạnh Văn miếu, có thể coi đây là trƣờng đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu trƣờng chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc quyền quý, sau vua Trần Thái Tông đổi Quốc tử giám thành Quốc học viện cho mở rộng thu nhận cả con các nhà thƣờng dân có sức học xuất sắc.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, nhà Lý trong 200 năm trị vì đã tổ chức đƣợc 7 kỳ thi tuyển, đó là: khoa Minh kinh Bác học và thi Nho học tam trƣờng vào các năm Ất Mão, niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075); khoa Bính Dần năm Quảng Hựu thứ 2 (1086); khoa Nhâm Ngọ năm Đại Định thứ 23 (1162); khoa Nhâm Dần năm Trinh Phù thứ 7 (1182); khoa Ất Tỵ năm Trinh Phù thứ 10 (1185); khoa Quý Sửu năm Thiên Tƣ Gia Thụy thứ 8 (1193) và khoa Ất Mão năm Thiên Tƣ Gia Thụy thứ 10 (1195). 12 luan an Trải theo chiều dài lịch sử đất nƣớc, tiếp theo các triều Trần, Lê, Mạc, Nguyễn ngoài việc thƣờng xuyên tổ chức các khoa thi để lựa chọn nhân tài, còn có những chính sách nhằm khuyến khích việc học. Triều Trần, năm 1227, mở khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) để chọn ngƣời giỏi. Khoa thi Nho học đầu tiên của triều Trần tổ chức vào tháng Hai năm Nhâm Thìn niên hiệu Kiến Trung thứ 8 (1232), kết thúc là khoa Thái học sinh năm Quý Dậu (1393).

Để khuyến khích việc học tập của các sĩ tử vùng xa kinh đô, khoa thi Thái học sinh năm Nguyên Phong thứ 6 (1256) quy định lấy 2 Trạng nguyên: 1 Trạng nguyên Kinh và 1 Trạng nguyên Trại 6: “Hồi sơ quốc cử ngƣời chƣa phân kinh trại, ngƣời đỗ đầu cho danh hiệu Trạng nguyên. Đến nay chia Thanh Hóa, Nghệ An làm trại, cho nên có phân biệt kinh, trại”. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông gây ra những xáo trộn trong học tập, khoa cử, vua Trần Nhân Tông “xuống chiếu cho sĩ nhân trong nƣớc ôn luyện để đợi thi”. Khoa thi Thái học sinh lớn nhất đƣợc mở vào năm Giáp Thìn Hƣng Long năm thứ 12 (1304) với 44 ngƣời đỗ Thái học sinh “dẫn 3 ngƣời đỗ đầu ra cửa Long Môn của Phƣợng Thành đi du ngoạn đƣờng phố 3 ngày, còn 330 ngƣời khác thì ở lại học tập”.

Cuối triều Trần, vua Trần Thuận Tông đƣa ra chính sách dùng ruộng công thu hoa lợi cấp cho trƣờng học, quy định “phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa 12 mẫu, chủ châu nhỏ 10 mẫu”. Triều Lê, triều đình đặc biệt chú trọng đến giáo dục, đào tạo nhân tài. Năm Thuận Thiên thứ 1 (1428), ngoài Quốc tử giám ở kinh đô, Lê Thái Tổ hạ chiếu các nơi trong nƣớc đều dựng học đƣờng ở các phủ để dạy dỗ nhân tài. Năm 1484, việc cho dựng bia ghi tên các Tiến sĩ đánh dấu sự ra đời của văn bia liên quan đến khuyến học Việt Nam.

Quy định về vinh quy bái tổ là ân điển lớn đƣợc duy trì đến triều Nguyễn, là điểm nhấn quan trọng trong hoạt động khuyến học. Năm Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463) “ bắt đầu định lệ ba năm một lần thi Hội” với quy mô lớn chƣa từng có “bấy giờ ngƣời dự thi có tới 4.400 ngƣời, lấy đỗ 44 ngƣời”. Từ khoa thi này, lễ truyền loa xƣớng danh các tân Tiến sĩ và ban ân mệnh cho từng ngƣời, đem bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa cho các sĩ nhân biết, đƣợc coi là thƣờng lệ. 6 Tứ trấn ở miền Bắc gọi là Kinh, miền Thanh Hóa và Nghệ An gọi là Trại.

13 luan an Một sự kiện lớn là việc dựng bia đề danh Tiến sĩ tại Văn miếu - Quốc tử giám Thăng Long do sáng kiến của vua Lê Thánh Tông năm 1484: “vua cho là từ năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông đến giờ, việc dựng bia, đề tên Tiến sĩ các khoa vẫn chƣa làm đƣợc, sai Lễ bộ Thƣợng thƣ Quách Đình Bảo biên rõ họ tên, thứ bậc các Tiến sĩ thi đỗ, kể từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo thứ 3 (1442) triều Thái Tông, khoa Mậu Thìn năm Thái Hòa thứ 6 triều Nhân Tông, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ 4, khoa Bính Tuất năm thứ 7, khoa Kỷ Sửu năm thứ 10, khoa Nhâm Thìn năm Hồng Đức thứ 3, khoa Ất Mùi năm thứ 6, khoa Mậu Tuất năm thứ 9, khoa Tân Sửu năm thứ 12, khoa Giáp Thìn năm nay, khắc vào bia đá, v.v… Vua y tờ tâu, sai Công bộ khởi công dựng tạc bia”. Triều Mạc, các vua rất chú trọng việc mở các khoa thi Tiến sĩ để tuyển chọn nhân tài. Ngay cả khi nhà Mạc và nhà Lê Trung hƣng xảy ra cuộc chiến, các khoa thi Tiến sĩ vẫn đƣợc mở đều đặn. Năm Kỷ Sửu niên hiệu Mạc Minh Đức thứ 3 (1529): “Họ Mạc mở khoa thi Hội, lấy 3 ngƣời đỗ Tiến sĩ cập đệ, 8 ngƣời đỗ Tiến sĩ xuất thân và 16 ngƣời đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân.

Năm Nhâm Thìn, niên hiệu Mạc Hồng Ninh thứ 2 (1592), họ Mạc mở khoa thi Hội, lấy 4 ngƣời đỗ Tiến sĩ xuất thân, 13 ngƣời đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân. Triều Tây Sơn, vua Quang Trung khi vừa lên ngôi (1788) đã ban Chiếu lập học, thể hiện sự coi trọng giáo dục thời kỳ này, với những chính sách cụ thể, phổ cập việc học và đào tạo thực tài. Chiếu lập học là một chính sách rất kịp thời và tiến bộ nhằm cải cách giáo dục dƣới triều Tây Sơn. Bên cạnh đó, chủ trƣơng mở trƣờng, đặt chức Đốc học ở các trấn Bắc Thành [289] thể hiện rõ việc chăm lo, khuyến khích việc học của triều đại này.

Triều Nguyễn, sau khi Gia Long lên ngôi, tình hình chính trị, xã hội có nhiều biến động, việc học hành thi cử mất vài năm mới dần đƣợc khôi phục. Ngoài các khoa thi Tiến sĩ nhƣ các triều đại trƣớc, triều Nguyễn còn đặt ra một số Ân khoa và Chế khoa bác sĩ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về khuyến học tại Nghệ An" của tác giả Lê Thị Thu Hương, dưới sự hướng dẫn của GS. Đinh Khắc Thuân và PGS. Nguyễn Tuấn Cường, được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích các tư liệu Hán Nôm liên quan đến khuyến học tại Nghệ An, từ đó làm nổi bật vai trò của văn hóa học thuật trong việc phát triển giáo dục và khuyến khích học tập trong cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về lịch sử giáo dục, cũng như các phương pháp khuyến học truyền thống, giúp mở rộng hiểu biết về văn hóa giáo dục Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và các phương pháp giảng dạy, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại các trường tiểu học huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, nơi đề cập đến các phương pháp quản lý trong giáo dục tiểu học, hay Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục An Toàn Giao Thông Tại Trường Trung Học Cơ Sở Huyện An Phú, An Giang, cung cấp cái nhìn về quản lý giáo dục trong bối cảnh an toàn giao thông. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ về quản lý hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học tại Đà Nẵng, một nghiên cứu quan trọng về giáo dục môi trường trong trường học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của giáo dục và quản lý trong bối cảnh hiện đại.