Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số: 9 22 01 04) với đề tài Nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An do nghiên cứu sinh Lê Thị Thu Hương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đinh Khắc Thuân và PGS. Nguyễn Tuấn Cường, hoàn thành năm 2020.

Khuyến học trong lịch sử giáo dục Việt Nam giai đoạn 1075–1919 gắn liền với nền giáo dục khoa cử Nho học, đóng vai trò là động lực trong việc bồi dưỡng nhân tài và hình thành truyền thống hiếu học. Nghệ An là vùng đất có truyền thống khoa bảng lâu đời với 91 vị đỗ đại khoa và 562 vị đỗ Cử nhân dưới triều Nguyễn. Phong trào khuyến học tại địa phương này được tổ chức chặt chẽ từ quy mô dòng họ, thôn, xã đến cấp huyện, tỉnh và được ghi chép trong khối lượng lớn tư liệu Hán Nôm. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án triển khai, nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học Nghệ An chủ yếu mới được tiếp cận dưới dạng các công trình biên dịch đơn lẻ, khảo sát cục bộ từng loại hình văn bản (văn bia, hương ước hoặc địa chí) hoặc giới thiệu một số danh nhân, dòng họ riêng biệt, chưa có công trình nào khảo sát, thống kê và phân tích một cách toàn diện, có hệ thống. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu toàn diện nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An bao gồm đặc điểm văn bản, giá trị nội dung, đồng thời đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị nguồn tư liệu đó đối với công tác khuyến học, khuyến tài trong giai đoạn hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa toàn diện nguồn tư liệu Hán Nôm có nội dung khuyến học Nghệ An hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Thư viện Quốc gia, Thư viện tỉnh Nghệ An và tại cơ sở địa phương.
    2. Nghiên cứu đặc điểm văn bản học trên các phương diện: định dạng văn bản (bản in, bản viết tay, văn khắc), sự phân bố theo thời gian và không gian, đặc điểm văn tự (chữ Hán, chữ Nôm), tác giả và giám định niên đại văn bản.
    3. Phân tích nội dung khuyến học được ghi chép trong tư liệu Hán Nôm (dựng trường mở lớp, chế độ khen thưởng, chế tài xử phạt), từ đó rút ra các đặc điểm nội dung cơ bản.
    4. Đánh giá giá trị của nguồn tư liệu và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị tư liệu Hán Nôm về khuyến học Nghệ An trong xã hội đương đại.
    5. Phiên dịch một số văn bản tư liệu Hán Nôm tiêu biểu có nội dung khuyến học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ tư liệu Hán Nôm có nội dung khuyến học của tỉnh Nghệ An, bao gồm 96 kí hiệu thư tịch và 100 đơn vị thác bản văn bia.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An theo phân định hành chính hiện nay (gồm 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện), có đối chiếu với địa giới hành chính lịch sử qua các thời kỳ Trần, Lê, Nguyễn.
    • Thời gian: Tập trung vào giai đoạn giáo dục khoa cử Nho học từ năm 1075 đến năm 1919 và kết thúc ở mốc cải lương hương chính (1919–1921); nguồn tư liệu được khảo sát và cập nhật đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung:

1. Tình hình nghiên cứu khuyến học ở một số nước phương Đông:

  • Tại Trung Quốc: Khuyến học Nho gia gắn với các tác phẩm kinh điển như thiên Khuyến học của Tuân Tử thời Tiên Tần, Khuyến học thi của Tống Chân Tông thời Tống, Khuyến học thiên của Trương Chi Động thời Thanh. Các nghiên cứu hiện đại gồm: Trương Thứ Đệ (nghiên cứu giá trị xã hội đương đại của khuyến học Nho gia), Ngô Dân Tường và Lộ Thế Bằng (phân tích sự lưu biến của tư tưởng khuyến học qua ba tác phẩm tiêu biểu của Tuân Tử, Tống Chân Tông và Trương Chi Động), Điền Kiến Bình (nghiên cứu thiên Khuyến học của Tuân Tử), Trần Ngọc Lợi (nghiên cứu nội dung giáo dục đạo đức qua thiên Khuyến học), Lưu Phúc Sâm (2008, luận văn Thạc sĩ về Sở khuyến học cấp huyện cuối thời Thanh).
  • Tại Hàn Quốc: Kim Kyong Ho nghiên cứu vấn đề khuyến học trong truyền thống Nho học Đông Á từ góc độ kế thừa và biến dung; Lee Kyu Sang nghiên cứu triết học giáo dục trong thiên Khuyến học của Tuân Tử, nhấn mạnh việc học tập gắn liền với thực tiễn ("hành").
  • Tại Nhật Bản: Tư tưởng kết hợp văn nghiệp và võ nghiệp thời Edo của Kumazawa và Yamaga Soko; tác phẩm Khuyến học (1872–1876) của Fukuzawa Yukichi đặt nền tảng cho tư tưởng thực học, bình đẳng và cải cách giáo dục thời Minh Trị.

2. Tình hình nghiên cứu khuyến học ở Việt Nam:

  • Sách chuyên khảo: Đinh Khắc Thuân (2009, Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm), Nguyễn Hữu Mùi (2010, Truyền thống hiếu học và hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ ở Vĩnh Phúc), Bùi Xuân Đính (2010, Giáo dục và khoa cử Nho học Thăng Long - Hà Nội), Vũ Duy Mền (2010, Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ), Phạm Tất Dong (2012, Khuyến học), Vũ Hoa Tươi (2017, Cẩm nang công tác khuyến học...), Trịnh Khắc Mạnh (2007, Thư mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2; 2014, Tiếp cận di sản Hán Nôm; 2016, Di sản Hán Nôm trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam).
  • Kỷ yếu hội thảo: Kỷ yếu Văn miếu và truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc (2008) với các bài viết của Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Thị Oanh, Lã Minh Hằng, Nguyễn Tá Nhí...
  • Luận án: Nguyễn Hữu Mùi (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Nghiên cứu văn bia khuyến học Việt Nam từ thế kỉ XV đến những năm đầu thế kỷ XX, khảo sát 874 văn bia toàn quốc, trong đó có 20 bia ở Nghệ An); Nguyễn Đình Mạnh (2014, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Khuyến học qua văn hóa dòng họ xứ Thanh).
  • Bài báo tạp chí: Nguyễn Thúy Nga (2013, giáo dục thời Tây Sơn; 2016, nguồn tài liệu Hán Nôm ghi danh người đỗ thi Hương), Nguyễn Đình Bưu (2011, khuyến học Thanh Hóa), Nguyễn Hữu Mùi (2014, văn bia lập Hương học ở Quỳnh Đô; 2014, khuyến học dòng họ; 2015, khuyến học tỉnh Ninh Bình; 2016, Hội Tư văn; 2016, tổng học điền kí ở Lập Thạch)...

3. Tình hình nghiên cứu về khuyến học của Nghệ An:

  • Địa chí và thư tịch: Nghệ An kí của Bùi Dương Lịch (Nguyễn Thị Thảo dịch, Bạch Hào hiệu đính, 1993); Phan Tương (1997, Họ Phan trong cộng đồng dân tộc Việt Nam); Hương ước Nghệ An (1998, biên dịch 37 bản hương ước); Đào Tam Tỉnh (2000, Khoa bảng Nghệ An 1075–1919); Ninh Viết Giao chủ biên (2004, Văn bia Nghệ An, tập hợp 167 văn bia); Hồ Văn Khuê (2004, Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên); Lê Tài Hòe (2013, Nghệ An toàn chí tập 8).
  • Các bài viết chuyên khảo và tạp chí: Nguyễn Xuân Đường (2005), Nguyễn Hương Thoan (2001), Nguyễn Minh Tuân (2015), Đào Tam Tỉnh (2016, các bài về Văn miếu Nghệ An, Văn thánh các huyện, làng xã, dòng họ khoa bảng ở Cổ Bái). Tác giả Lê Thị Thu Hương từ năm 2015 đến năm 2019 đã công bố các bài viết về khuyến học huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), 13 vị Trạng nguyên/Tiến sĩ ở Thanh Chương, khoa bảng Nghệ An qua địa chí, danh mục văn bia khuyến học Nghệ An, tục lệ Hán Nôm khuyến học, trường học làng xã và lễ cầu khoa.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Các công trình trước đây tại Nghệ An chủ yếu dừng ở việc phiên dịch, giới thiệu từng văn bản riêng lẻ hoặc từng thiết chế cụ thể. Luận án là công trình đầu tiên khảo sát đồng bộ cả hai khối tư liệu thư tịch và văn bia, xử lý các vấn đề văn bản học (như văn bản ngụy tạo niên đại), phân loại chi tiết các chính sách khuyến học cơ sở và làm rõ tính chất của khuyến học Nghệ An trong lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Khái niệm Khuyến học: Hoạt động hoặc chính sách trong lĩnh vực giáo dục nhằm cổ vũ, khích lệ cá nhân hoặc tập thể nỗ lực học tập; tạo điều kiện thuận lợi về tinh thần và vật chất của cá nhân hay tổ chức để người học thúc đẩy việc học tập, vận động các nguồn lực tạo cơ hội học tập cho mọi người, góp phần xây dựng xã hội học tập.
  • Khái niệm Tư liệu Hán Nôm về khuyến học Nghệ An: Toàn bộ các loại hình tư liệu thành văn được ghi chép bằng chữ Hán và chữ Nôm có nội dung phản ánh các hoạt động, quy định, chính sách khuyến học của tỉnh Nghệ An trong nền giáo dục khoa cử Nho học cho đến đầu thế kỷ XX (trước năm 1921).

2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp văn bản học: Khảo sát hình thức văn bản, định dạng, văn tự, niên đại, xác định thiện bản để đảm bảo độ tin cậy khoa học; nhận diện và hiệu đính các văn bản bị ngụy tạo niên đại.
  • Phương pháp phiên dịch học: Chuyển ngữ các văn bản chữ Hán và chữ Nôm sang tiếng Việt theo tiêu chuẩn học thuật, phục vụ quá trình minh giải nội dung.
  • Phương pháp thống kê, định lượng: Thống kê số lượng thư tịch, văn bia, điều ước khuyến học, sự phân bố không gian, thời gian và tỷ lệ phần trăm các điều khoản khuyến học trong từng huyện.
  • Phương pháp giáo dục học: Phân tích cách thức huy động nguồn lực xã hội, việc tổ chức trường lớp, chế độ đãi ngộ người dạy và người học trong giáo dục truyền thống.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức ngữ văn Hán Nôm với sử học, văn hóa học, dân tộc học và văn hóa dân gian.
  • Phương pháp điều tra điền dã: Sưu tầm tư liệu tại cơ sở, khảo sát thực địa di tích, in dập bổ sung thác bản văn bia chưa có tại viện nghiên cứu, phỏng vấn cán bộ làm công tác khuyến học hiện nay.

3. Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án gồm 196 đơn vị tư liệu Hán Nôm khảo sát tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN), Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội (TTKHXH), Thư viện Quốc gia, Thư viện tỉnh Nghệ An và các làng xã tại Nghệ An:

Nhóm tư liệu Thể loại cụ thể Số lượng đơn vị / Kí hiệu
Thư tịch (96 kí hiệu) Tục lệ (hương ước, khoán ước) 60 kí hiệu (chứa 357 văn bản làng xã)
Đăng khoa lục 13 kí hiệu
Địa chí 10 kí hiệu
Sách lịch sử 5 kí hiệu
Gia phả 5 kí hiệu
Gia huấn 3 kí hiệu
Văn bia (100 thác bản) Bia đề danh khoa bảng 59 thác bản
Bia thờ Tiên hiền 14 thác bản
Bia trùng tu Văn từ, Văn chỉ 10 thác bản
Bia ghi tiểu sử nhà khoa bảng 10 thác bản
Bia của Hội Tư văn 7 thác bản

Tư liệu khuyến học sớm nhất được ghi nhận tại Nghệ An là bản Hội khoán thôn Quỳnh Đôi (xã Quỳnh Lưu) lập năm Vĩnh Thọ thứ 3 (1660).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về khuyến học và lịch sử nghiên cứu. Tác giả làm rõ các khái niệm công cụ, tóm lược quá trình phát triển của phong trào khuyến học qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn tại Việt Nam và đối chiếu với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Chương này cũng phân tích lịch sử địa giới hành chính tỉnh Nghệ An qua các thời kỳ (từ thời Cửu Đức, Hoan Châu, Nghệ An thừa tuyên thời Lê Thánh Tông với 8 phủ 18 huyện 2 châu, đến trấn Nghệ An thời Nguyễn và cơ cấu 1 thành phố, 3 thị xã, 17 huyện hiện nay). Trên cơ sở đánh giá các công trình đi trước, chương xác lập định hướng nghiên cứu toàn diện về văn bản học và nội dung khuyến học của luận án.

Chương 2: Khảo sát nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

Chương 2 tập trung khảo sát thực trạng và đặc điểm văn bản học của 96 kí hiệu thư tịch và 100 đơn vị văn bia.

Thống kê văn bản tục lệ khuyến học theo địa bàn các huyện tại Nghệ An:

STT Tên huyện Tục lệ xã Tục lệ thôn Tục lệ giáp Tục lệ phường Tục lệ Hội Tư văn Tổng số văn bản có khuyến học
1 Hưng Nguyên 22 65 2 2 0 91
2 Nghi Lộc 11 30 1 0 1 43
3 Quỳnh Lưu 12 20 2 2 0 36
4 Lương Sơn 5 20 1 0 0 26
5 Yên Thành 1 23 0 0 1 25
6 Thanh Chương 7 11 1 0 0 19
7 Nam Đàn 4 9 1 0 0 14
8 Đông Thành 3 9 1 0 0 13
9 Diễn Châu 2 6 0 0 0 8
10 Nghĩa Đàn 0 0 0 0 1 1
Tổng 10 huyện 67 193 9 4 3 276

Tỷ lệ văn bản tục lệ có điều ước khuyến học đạt 77,3% (276/357 văn bản). Huyện Hưng Nguyên có số lượng tục lệ khuyến học nhiều nhất (91 văn bản), tiếp đến là Nghi Lộc (43 bản), Quỳnh Lưu (36 bản); huyện Nghĩa Đàn có ít nhất (1 bản).

Về mặt văn bản học, chương làm rõ các định dạng văn bản (bản viết tay trên giấy dó, bản in khắc gỗ, văn bia khắc trên đá), đặc điểm văn tự (chủ yếu là chữ Hán, một số văn bản kết hợp chữ Nôm để ghi địa danh, tên người, dụng cụ), tình hình ghi chép soạn giả. Đặc biệt, tác giả khảo sát và phát hiện các trường hợp niên đại ngụy tạo thời Cảnh Hưng và Vĩnh Thịnh trong văn bia khuyến học Nghệ An, chứng minh đây là các văn bia được dựng lại hoặc bổ sung vào thời Nguyễn nhưng thác bản ghi niên đại thời Lê nhằm tăng tính cổ kính cho di tích hoặc văn bản.

Chương 3: Nội dung và đặc điểm tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An

Chương 3 phân tích chi tiết các chính sách khuyến học được ghi nhận trong tư liệu và chỉ ra các đặc điểm nội dung chính:

1. Các chính sách khuyến học cụ thể:

  • Dựng trường, mở lớp: Các làng xã trích đất công lập trường làng, sử dụng Văn chỉ, Văn từ làm nơi dạy học; quy định mời thầy giáo, chế độ nuôi thầy (cấp ruộng học điền, cấp hoa lợi, dựng nhà cho thầy), quy định trách nhiệm của giám trường và tuần trật. Các nhà khoa bảng sau khi hồi hưu như Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Nguyên Thành cũng mở trường tư thục dạy học tại địa phương.
  • Chế độ khen thưởng:
    • Hỗ trợ vật chất: cấp học điền, trợ cấp tiền bút mực, cấp kinh phí đi thi Hương, thi Hội.
    • Tôn vinh tinh thần: tổ chức lễ cầu khoa trước kỳ thi (khảo sát thấy xuất hiện tại 24 thôn xã), lễ tạ khoa khi đỗ đạt; tổ chức lễ đón rước vinh quy bái tổ trọng thể; khắc tên vào văn bia Văn chỉ, ghi danh vào sổ Đăng khoa lục của làng, tổng, huyện; ưu tiên vị thứ chỗ ngồi nơi đình trung theo học vị thay vì theo tuổi tác hay tiền tài; miễn giảm sưu sai, tạp dịch, binh dao cho người đi học và người đỗ đạt.
  • Chế độ chế tài xử phạt: Quy định xử phạt nghiêm khắc đối với người lười biếng, bỏ học giữa chừng, mượn danh đi học để trốn tránh tạp dịch làng xã, hoặc có hành vi bất kính với thầy giáo, coi thường Nho học và thể lệ khoa cử.

2. Bốn đặc điểm nội dung của tư liệu Hán Nôm khuyến học Nghệ An:

  • Gắn liền với nền giáo dục khoa cử Nho học truyền thống, lấy hệ quy chuẩn đạo đức Nho giáo và con đường cử nghiệp làm thước đo.
  • Nội dung khuyến học mang tính đa dạng, phong phú, kết hợp hài hòa giữa lợi ích vật chất và danh dự tinh thần.
  • Mang tính linh hoạt, chủ động, kịp thời biến đổi phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và thời cuộc của từng địa phương.
  • Mang tính đặc điểm vùng rõ nét, phản ánh tính cách kiên trì, chuộng sự học của cư dân vùng đất "địa linh nhân kiệt" xứ Nghệ.

Chương 4: Giá trị tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị tư liệu đối với khuyến học hiện nay

Chương 4 đánh giá các giá trị và hạn chế của di sản khuyến học, đồng thời khảo sát thực trạng bảo lưu và đề xuất giải pháp:

  • Giá trị: Nguồn tư liệu chứa đựng các giá trị nhân văn sâu sắc, đề cao sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận tri thức của thường dân nghèo, tôn vinh đạo nghĩa thầy trò và bồi dưỡng nhân cách kẻ sĩ.
  • Hạn chế: Tư tưởng khuyến học xưa mang tính độc tôn Nho học, thiên về lối học từ chương, cử nghiệp để mưu cầu quan lộc, thiếu vắng nội dung giáo dục khoa học kỹ thuật và thực nghiệp; còn phân biệt đối xử về mặt giới tính (chỉ dành cho nam giới).
  • Thực trạng bảo lưu và khuyến học hiện nay: Khảo sát hoạt động khuyến học tại Nghệ An (các lễ tuyên dương học sinh giỏi, mô hình hòm khuyến học tại nhà thờ họ Nguyễn Phùng xã Xuân Tường, Thanh Chương) và thực trạng xuống cấp của các di tích Văn chỉ, đình làng (như đình Võ Liệt), tình hình số hóa tư liệu Hán Nôm tại Ban quản lý Di tích Nghệ An.
  • Giải pháp: Đề xuất phương hướng bảo tồn vật lý và kỹ thuật số đối với di sản Hán Nôm; đưa nội dung khuyến học truyền thống vào giáo dục lịch sử địa phương; phát huy vai trò của dòng họ hiếu học và Hội Khuyến học các cấp; vận dụng bài học kinh nghiệm về chính sách đãi ngộ, huy động nguồn lực xã hội vào công tác xây dựng xã hội học tập hiện nay.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận:

  1. Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống hóa đầy đủ và toàn diện nhất nguồn tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An từ trước đến nay, bao gồm 96 kí hiệu thư tịch và 100 đơn vị thác bản văn bia.
  2. Triển khai nghiên cứu liên ngành kết hợp văn bản học, thư tịch học và giáo dục học: khảo sát phân loại hình thức văn bản, xác định thiện bản, minh giải niên đại, đặc biệt là nhận diện các hiện tượng ngụy tạo niên đại thời Cảnh Hưng và Vĩnh Thịnh trên văn bia khuyến học.
  3. Làm sáng tỏ hệ thống chính sách khuyến học hoàn chỉnh ở cấp làng xã truyền thống (xây trường, nuôi thầy, cấp học điền, lễ cầu khoa, vinh quy, chế tài xử phạt), chứng minh tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo của người dân Nghệ An trong việc thực thi và bản địa hóa chính sách giáo dục của nhà nước phong kiến.
  4. Cung cấp bản dịch học thuật đối với nhiều văn bản hương ước, văn bia khuyến học tiêu biểu trong phần phụ lục, bổ sung tư liệu tin cậy cho ngành Hán Nôm học và Lịch sử giáo dục Việt Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Tăng cường công tác kiểm kê, số hóa và in dập bổ sung thác bản văn bia, hương ước Hán Nôm còn lưu lạc tại các làng xã, dòng họ ở Nghệ An.
  • Xây dựng kế hoạch bảo tồn khẩn cấp các di tích Văn từ, Văn chỉ, nhà thờ họ khoa bảng đang bị xuống cấp.
  • Vận dụng các cơ chế khuyến học truyền thống (như quỹ học điền, tôn vinh người có thành tích học tập, huy động nguồn lực dòng họ) vào việc xây dựng các mô hình "Gia đình học tập", "Dòng họ học tập" và "Xã hội học tập" theo chủ trương hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Nguồn tư liệu chủ yếu tập trung vào giai đoạn khoa cử Nho học (trước năm 1919–1921), chưa khảo sát sâu giai đoạn chuyển đổi chữ viết sang chữ Quốc ngữ và văn hóa giáo dục phương Tây đầu thế kỷ XX.
    • Phân bố tư liệu không đồng đều giữa các huyện: các huyện đồng bằng, trung du (Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu) có số lượng tư liệu áp đảo, trong khi các huyện miền núi (Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Kỳ Sơn...) có rất ít tư liệu Hán Nôm được lưu giữ hoặc sưu tầm.
    • Một số văn bia tại thực địa bị mờ, phong hóa nặng chưa thể phục hồi trọn vẹn văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu mô hình khuyến học Nghệ An với các trung tâm học vấn khác ở Bắc Bộ (Kinh Bắc, Sơn Nam) và Nam Trung Bộ (Quảng Nam, Thừa Thiên Huế).
    • Tiếp tục điều tra điền dã sâu tại các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An nhằm phát hiện thêm các tài liệu Hán Nôm dòng họ.
    • Khảo sát sự chuyển biến của phong trào khuyến học từ sau cải lương hương chính (1921) đến giai đoạn 1945 qua nguồn tư liệu chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Hán Nôm, Lịch sử, Văn hóa học và Giáo dục học: Luận án cung cấp bộ ngữ liệu phong phú, chính xác về văn bản học (với bảng thống kê 276 bản tục lệ, danh mục 100 văn bia, thư mục đề yếu và các bản dịch phụ lục); là tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận văn bản học kết hợp nghiên cứu chính sách giáo dục làng xã.
  • Đối với giảng viên và sinh viên các trường đại học: Cung cấp cứ liệu giảng dạy về lịch sử giáo dục Việt Nam truyền thống, văn bản học Hán Nôm và địa chí học xứ Nghệ.
  • Đối với cán bộ quản lý văn hóa và Hội Khuyến học các cấp: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để hoạch định chính sách bảo tồn di tích khoa bảng (Văn miếu, Văn chỉ), xây dựng quỹ khuyến học, vận động phong trào dòng họ học tập dựa trên truyền thống địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ văn bản tục lệ Hán Nôm có quy định khuyến học ở Nghệ An là bao nhiêu và phân bố ra sao?
Trong tổng số 357 văn bản tục lệ được khảo sát tại 10 huyện của Nghệ An, có 276 văn bản chứa điều ước khuyến học, chiếm tỷ lệ 77,3% (gồm 67 bản của xã, 193 bản của thôn, 9 bản của giáp, 4 bản của phường và 3 bản của Hội Tư văn). Huyện Hưng Nguyên có số lượng nhiều nhất với 91 văn bản, tiếp đến là Nghi Lộc (43 bản), Quỳnh Lưu (36 bản), Lương Sơn (26 bản), Yên Thành (25 bản), Thanh Chương (19 bản), Nam Đàn (14 bản), Đông Thành (13 bản), Diễn Châu (8 bản) và Nghĩa Đàn (1 bản).

2. Tư liệu Hán Nôm có nội dung khuyến học sớm nhất được xác định tại Nghệ An là văn bản nào?
Tư liệu khuyến học sớm nhất được ghi nhận trong luận án là bản Hội khoán của thôn Quỳnh Đôi, xã Quỳnh Lưu, được lập vào năm Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) dưới triều vua Lê Thần Tông, phản ánh các quy định tôn sùng Nho học và khuyến khích khoa cử tại làng xã.

3. Luận án đã phát hiện và xử lý vấn đề văn bản học đặc thù nào đối với nguồn văn bia khuyến học Nghệ An?
Luận án đã phát hiện hiện tượng ngụy tạo niên đại Cảnh Hưng và Vĩnh Thịnh trong một số thác bản văn bia khuyến học. Tác giả chỉ ra rằng đây là các văn bia được lập hoặc khắc lại vào thời Nguyễn nhưng người soạn đã ghi lùi niên đại về các niên hiệu thời Lê Trung hưng nhằm tạo tính cổ kính và tăng uy tín cho thiết chế giáo dục hoặc dòng họ tại địa phương.

4. Nội dung chính sách khuyến học cơ sở của Nghệ An gồm những hình thức đãi ngộ và chế tài nào?
Chính sách gồm ba nhóm: (1) Dựng trường mở lớp, cấp học điền nuôi thầy; (2) Chế độ khen thưởng vật chất (trợ cấp bút giấy, tiền lộ phí đi thi, cấp ruộng) và tinh thần (tổ chức lễ cầu khoa, lễ tạ khoa, đón rước vinh quy bái tổ, khắc tên vào bia đá/sổ vàng, ưu tiên vị thứ đình trung, miễn sưu sai tạp dịch); (3) Chế tài xử phạt đối với người lười học, mượn danh đi học để trốn việc công, hoặc xúc phạm thầy giáo.

5. Tổng quy mô nguồn tư liệu Hán Nôm được luận án khảo sát thực tế là bao nhiêu?
Luận án khảo sát tổng cộng 96 kí hiệu thư tịch (gồm 60 kí hiệu tục lệ, 13 đăng khoa lục, 10 địa chí, 5 lịch sử, 5 gia phả, 3 gia huấn) và 100 đơn vị thác bản văn bia (gồm 59 bia đề danh khoa bảng, 14 bia thờ Tiên hiền, 10 bia trùng tu Văn từ/Văn chỉ, 10 bia tiểu sử danh nhân, 7 bia Hội Tư văn).


Kết luận

Luận án Nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về khuyến học của Nghệ An của tác giả Lê Thị Thu Hương là công trình khảo sát toàn diện và có hệ thống nguồn di sản Hán Nôm (thư tịch và văn bia) về giáo dục truyền thống tại Nghệ An. Bằng phương pháp văn bản học kết hợp thống kê định lượng và nghiên cứu liên ngành, tác giả đã làm rõ diện mạo, đặc điểm văn bản, phát hiện các niên đại ngụy tạo, đồng thời phục dựng bức tranh chính sách khuyến học cơ sở phong phú, linh hoạt của vùng đất xứ Nghệ dưới thời quân chủ. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu khoa học cho chuyên ngành Hán Nôm và Lịch sử giáo dục Việt Nam mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa và thúc đẩy phong trào khuyến học, khuyến tài trong giai đoạn hiện nay.