mở đầu của giai đoạn cải lƣơng hƣơng chính (1919-1921). Đặc biệt khai thác sâu nội dung tƣ liệu, nhƣ tƣ liệu đăng khoa lục, từ thông tin về đăng khoa lục thấy đƣợc ý nghĩa khuyến khích và nêu gƣơng, truyền thống đỗ đạt của địa phƣơng, bổ sung những thông tin hữu ích để chỉnh lý những sự kiện, nhân vật khoa bảng cho chính xác hơn. Khái lƣợc quá trình phát triển của khuyến học Ở Trung Quốc Thời nhà Chu, khuyến học Nho gia trở thành một trong những hệ thống biểu đạt kết hợp giữa tƣ tƣởng với thực tiễn, ngƣời sáng lập là Khổng Tử. Khổng Tử đại biểu cho khuyến học Nho gia thời kỳ sớm nhất, nội dung khuyến học chủ yếu là nhấn mạnh nhân và đức.
Trong tác phẩm Luận ngữ, Khổng Tử đã dùng chính cuộc đời mình để khái quát về việc học “ta 15 tuổi mới chuyên tâm vào việc học, ba mƣơi tuổi mới tự lập, bốn mƣơi tuổi mới thấu hiểu mọi sự lý trong thiên hạ, năm 10 luan an mƣơi tuổi mới hiểu đƣợc mệnh trời, sáu mƣơi tuổi mới có kiến thức và kinh nghiệm hoàn hảo để có thể phán đoán ngay đƣợc mọi sự lý và nhân vật, mà không thấy có điều gì chƣớng ngại khi nghe đƣợc, bảy mƣơi tuổi mới có thể nói hay làm những điều đúng theo ý muốn của lòng mình mà không ra ngoài khuôn khổ đạo lý”. Muốn đạt tới khả năng nhận thức và thực hành, ở mỗi lứa tuổi ngƣời ta phải đƣợc giáo dục và tự mình chuyên tâm vào việc học, học liên tục ngay từ khi còn trẻ cho đến lúc tuổi già. Khuyến học Khổng Tử rất coi trọng việc “lấy mình làm gƣơng”, với việc học “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (học mà thƣờng xuyên luyện tập, chẳng vui lắm sao?”, “học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” (học mà không chán, dạy ngƣời mà không thấy mệt). Thời Chiến quốc, khuyến học của Mạnh Tử phát triển có tính sáng tạo, lấy phƣơng thức đề cao nhân cách cá thể để dẫn dắt chính trị quốc gia.
Để thuận lợi cho việc thực thi khuyến học, Mạnh Tử thẳng thắn cho rằng cần phải tham gia vào chính trị quốc gia, tức làm quan, làm thầy đế vƣơng. Thời Tiên Tần không ít ngƣời đề xƣớng việc học tập, nhƣng phải đến thiên “Khuyến học”của Tuân Tử mới lƣu lại dấu ấn lịch sử sâu sắc. Khuyến học của Tuân Tử là tƣ tƣởng khuyến học tiêu biểu thời kỳ đó, lấy “việc học để cầu tài năng” làm mục tiêu học tập. Thời nhà Hán, khuyến học Nho gia là một biểu hiện của đời Hán, tƣ tƣởng Nho gia trở thành tƣ tƣởng chính trị thống trị quốc gia, Nho học trở thành quan học, đúng với thực tế tên gọi.
Hán học lấy phƣơng thức cổ vũ, khích lệ, kêu gọi mọi ngƣời thông hiểu kinh sử, lấy quan chức để khuyến học, thời kỳ đó dẫn đến không khí Nho học rất sôi nổi. Khuyến học Nho gia thời nhà Hán lấy hình thức chính trị hóa quốc gia nên cổ vũ ngƣời học thông Nho học, Nho điển. Nho sĩ cũng muốn thông qua kinh điển để đƣợc trọng dụng, đƣợc tham gia vào hoạt động chính trị. Thời Minh Thanh, giáo dục nhà trƣờng và khảo thí khoa cử có sự kết hợp mật thiết, đó là biểu hiện chế độ khoa cử giáo dục quốc gia, của khuyến học Nho gia.
11 luan an Ở Việt Nam So với các nƣớc chịu ảnh hƣởng của giáo dục Nho học Trung Hoa, khuyến học ở Việt Nam có ảnh hƣởng lâu dài và liên tục. Tuy nhiên, thể chế, biện pháp khuyến học có sự thay đổi, phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại và tình hình giáo dục khoa cử nƣớc nhà. Thời Bắc thuộc, vào thế kỷ VIII và IX, chữ Hán đƣợc học và sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, ngƣời Việt sử dụng chữ Hán nhƣ chữ viết của mình. Nhờ tinh thần hiếu học, không ít ngƣời Việt có trình độ học vấn cao và thi đỗ trong các kì thi do triều đình phƣơng Bắc tổ chức, nhƣ: Phùng Đái Trí, Khƣơng Công Phụ, Khƣơng Công Phục, Liêu Hữu Phƣơng, v.135], những tấm gƣơng đó có tác dụng cổ vũ, khuyến khích học tập đối với hậu thế.
Triều Lý, năm 1070, triều đình cho dựng Văn miếu ở kinh thành Thăng Long thờ Khổng Tử và các vị Thánh hiền và là nơi học tập của Hoàng thái tử “Năm Canh Tuất niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070) đời Lý Thánh Tông, mùa thu, tháng Tám dựng Văn miếu, đắp tƣợng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tranh Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng thái tử đến học ở đây”. Nhƣ vậy, ngoài chức năng thờ tự các bậc Tiên Thánh, tiên sƣ của đạo Nho, Văn miếu còn mang chức năng của một trƣờng học hoàng gia. Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trƣờng Quốc tử giám ở bên cạnh Văn miếu, có thể coi đây là trƣờng đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu trƣờng chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc quyền quý, sau vua Trần Thái Tông đổi Quốc tử giám thành Quốc học viện cho mở rộng thu nhận cả con các nhà thƣờng dân có sức học xuất sắc.
Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, nhà Lý trong 200 năm trị vì đã tổ chức đƣợc 7 kỳ thi tuyển, đó là: khoa Minh kinh Bác học và thi Nho học tam trƣờng vào các năm Ất Mão, niên hiệu Thái Ninh thứ 4 (1075); khoa Bính Dần năm Quảng Hựu thứ 2 (1086); khoa Nhâm Ngọ năm Đại Định thứ 23 (1162); khoa Nhâm Dần năm Trinh Phù thứ 7 (1182); khoa Ất Tỵ năm Trinh Phù thứ 10 (1185); khoa Quý Sửu năm Thiên Tƣ Gia Thụy thứ 8 (1193) và khoa Ất Mão năm Thiên Tƣ Gia Thụy thứ 10 (1195). 12 luan an Trải theo chiều dài lịch sử đất nƣớc, tiếp theo các triều Trần, Lê, Mạc, Nguyễn ngoài việc thƣờng xuyên tổ chức các khoa thi để lựa chọn nhân tài, còn có những chính sách nhằm khuyến khích việc học. Triều Trần, năm 1227, mở khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) để chọn ngƣời giỏi. Khoa thi Nho học đầu tiên của triều Trần tổ chức vào tháng Hai năm Nhâm Thìn niên hiệu Kiến Trung thứ 8 (1232), kết thúc là khoa Thái học sinh năm Quý Dậu (1393).
Để khuyến khích việc học tập của các sĩ tử vùng xa kinh đô, khoa thi Thái học sinh năm Nguyên Phong thứ 6 (1256) quy định lấy 2 Trạng nguyên: 1 Trạng nguyên Kinh và 1 Trạng nguyên Trại 6: “Hồi sơ quốc cử ngƣời chƣa phân kinh trại, ngƣời đỗ đầu cho danh hiệu Trạng nguyên. Đến nay chia Thanh Hóa, Nghệ An làm trại, cho nên có phân biệt kinh, trại”. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông gây ra những xáo trộn trong học tập, khoa cử, vua Trần Nhân Tông “xuống chiếu cho sĩ nhân trong nƣớc ôn luyện để đợi thi”. Khoa thi Thái học sinh lớn nhất đƣợc mở vào năm Giáp Thìn Hƣng Long năm thứ 12 (1304) với 44 ngƣời đỗ Thái học sinh “dẫn 3 ngƣời đỗ đầu ra cửa Long Môn của Phƣợng Thành đi du ngoạn đƣờng phố 3 ngày, còn 330 ngƣời khác thì ở lại học tập”.
Cuối triều Trần, vua Trần Thuận Tông đƣa ra chính sách dùng ruộng công thu hoa lợi cấp cho trƣờng học, quy định “phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa 12 mẫu, chủ châu nhỏ 10 mẫu”. Triều Lê, triều đình đặc biệt chú trọng đến giáo dục, đào tạo nhân tài. Năm Thuận Thiên thứ 1 (1428), ngoài Quốc tử giám ở kinh đô, Lê Thái Tổ hạ chiếu các nơi trong nƣớc đều dựng học đƣờng ở các phủ để dạy dỗ nhân tài. Năm 1484, việc cho dựng bia ghi tên các Tiến sĩ đánh dấu sự ra đời của văn bia liên quan đến khuyến học Việt Nam.
Quy định về vinh quy bái tổ là ân điển lớn đƣợc duy trì đến triều Nguyễn, là điểm nhấn quan trọng trong hoạt động khuyến học. Năm Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463) “ bắt đầu định lệ ba năm một lần thi Hội” với quy mô lớn chƣa từng có “bấy giờ ngƣời dự thi có tới 4.400 ngƣời, lấy đỗ 44 ngƣời”. Từ khoa thi này, lễ truyền loa xƣớng danh các tân Tiến sĩ và ban ân mệnh cho từng ngƣời, đem bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa cho các sĩ nhân biết, đƣợc coi là thƣờng lệ. 6 Tứ trấn ở miền Bắc gọi là Kinh, miền Thanh Hóa và Nghệ An gọi là Trại.
13 luan an Một sự kiện lớn là việc dựng bia đề danh Tiến sĩ tại Văn miếu - Quốc tử giám Thăng Long do sáng kiến của vua Lê Thánh Tông năm 1484: “vua cho là từ năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông đến giờ, việc dựng bia, đề tên Tiến sĩ các khoa vẫn chƣa làm đƣợc, sai Lễ bộ Thƣợng thƣ Quách Đình Bảo biên rõ họ tên, thứ bậc các Tiến sĩ thi đỗ, kể từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo thứ 3 (1442) triều Thái Tông, khoa Mậu Thìn năm Thái Hòa thứ 6 triều Nhân Tông, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ 4, khoa Bính Tuất năm thứ 7, khoa Kỷ Sửu năm thứ 10, khoa Nhâm Thìn năm Hồng Đức thứ 3, khoa Ất Mùi năm thứ 6, khoa Mậu Tuất năm thứ 9, khoa Tân Sửu năm thứ 12, khoa Giáp Thìn năm nay, khắc vào bia đá, v.v… Vua y tờ tâu, sai Công bộ khởi công dựng tạc bia”. Triều Mạc, các vua rất chú trọng việc mở các khoa thi Tiến sĩ để tuyển chọn nhân tài. Ngay cả khi nhà Mạc và nhà Lê Trung hƣng xảy ra cuộc chiến, các khoa thi Tiến sĩ vẫn đƣợc mở đều đặn. Năm Kỷ Sửu niên hiệu Mạc Minh Đức thứ 3 (1529): “Họ Mạc mở khoa thi Hội, lấy 3 ngƣời đỗ Tiến sĩ cập đệ, 8 ngƣời đỗ Tiến sĩ xuất thân và 16 ngƣời đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân.
Năm Nhâm Thìn, niên hiệu Mạc Hồng Ninh thứ 2 (1592), họ Mạc mở khoa thi Hội, lấy 4 ngƣời đỗ Tiến sĩ xuất thân, 13 ngƣời đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân. Triều Tây Sơn, vua Quang Trung khi vừa lên ngôi (1788) đã ban Chiếu lập học, thể hiện sự coi trọng giáo dục thời kỳ này, với những chính sách cụ thể, phổ cập việc học và đào tạo thực tài. Chiếu lập học là một chính sách rất kịp thời và tiến bộ nhằm cải cách giáo dục dƣới triều Tây Sơn. Bên cạnh đó, chủ trƣơng mở trƣờng, đặt chức Đốc học ở các trấn Bắc Thành [289] thể hiện rõ việc chăm lo, khuyến khích việc học của triều đại này.
Triều Nguyễn, sau khi Gia Long lên ngôi, tình hình chính trị, xã hội có nhiều biến động, việc học hành thi cử mất vài năm mới dần đƣợc khôi phục. Ngoài các khoa thi Tiến sĩ nhƣ các triều đại trƣớc, triều Nguyễn còn đặt ra một số Ân khoa và Chế khoa bác sĩ.