Chương 1: Khai quat vé Vién nghiên cứu Hán và sưu tầm, bảo quản tài liệu của Viện 1. Lịch sử hình thành và phát triển Viện Nghiên cứu Hán Nôm 1. Lịch sử hình thành Viện Nghiên cứu Hán Nôm Di sản Hán Nôm gồm những thư tịch viết băng chữ Hán chữ Nôm, là kho văn hóa thành văn to lớn, phong phú, nó phản ánh lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Là hiện thân của nền văn hiến may ngan nam.
Di san Han Nôm đã trở thành nguồn tài liệu gốc đặc biệt có giá trị trong việc tìm hiểu về đất nước con người Việt Nam trong quá khứ. Bảo tồn lâu dài, khai thác có hiệu quả kho văn hóa thành văn này, là dé phuc vu cho su nghiệp phát triển nền văn hóa tiên tiễn đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay. Tài liệu Hán Nôm là mối dây liên kết không chỉ thắt chặt mối quá khứ và hiện tại, mà còn gìn giữ cho thế hệ tương lai một chiều đài lịch sử. (24, 3- 11) Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ trên, năm 1970 Ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam được thành lập.
Ban đã quy tụ nhiều nhà hoạt động cách mạng lão thành và có kiến thức Hán Nôm uyên bác như: Phạm Thiều, Thạch Can, Cao Xuân Huy, Hoa Băng, Đào Phương Bình, Ca Văn Thỉnh. cùng với các cộng tác viên thường trú như: Trần Duy Vôn, Lê Duy Chưởng, Nguyễn Hữu Chế, Nguyễn Văn Lãng. Ban Hán Nôm tổ chức nghiên cứu và phiên dịch các tài liệu Hán Nôm trong 9 năm (1970 — 1979). Ngày 13 tháng 9 năm 1979, Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập trên cơ sở Ban Hán Nôm, theo quyết định số 326/CP của Hội đồng Chính phủ và được tái khăng định thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (Nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) trong Nghị định số 23/CP ngày 22 tháng Š năm 1993 của Chính phủ, 12 1.
Chức năng nhiệm vụ của Viện Theo quyết định số 63/KHXH-QĐ, ngày 3 tháng 2 năm 1988 của Chủ nhiệm Ủy ban về chức năng nhiệm vụ và cơ cầu tổ chức của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Viện Nghiên cứu Han Nom có hai chức năng cơ bản: - Thống nhất quản lý, gìn giữ các văn bản và tư liệu chữ Hán, chữ Nôm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; - Nghiên cứu khai thác, kho tàng di sản thành văn đó. Nhiệm vụ cụ thể của Viện Nghiên cứu Hán Nôm là: * Vệ bảo tôn, nghiên cứu khai thác các tư liệu Hán Nôm và đào tạo cản bộ nghiên cứu Hán Nôm được xác định: - Bảo tổn và giám định các nguyên bản chữ Hán chữ Nôm, sao các bản gốc thành nhiều bản để sử dụng hoặc cung cấp cho các thư viện và các cơ quan có nhu cầu; - Tổ chức biên dịch (gồm cả chú giải) và chính thức công bố các tư liệu chữ Hán chữ Nôm, duyệt lại các bản dịch Hán Nôm đã được công bố; - Nghiên cứu văn bản học, biên soạn những sách công cụ cần thiết cho công tác biên dịch và nghiên cứu tư liệu chữ Hán chữ Nôm; - Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm. * Ve công tác sưu tâm và bảo quản tư liệu chữ Hán và chữ Nôm, Viện được Uỳ ban Khoa học xã hội Việt Nam giao các nhiỆm vụ cụ thé sau day: - Tién hanh điều tra, thu thập các văn bản Hán Nôm và các tư liệu liên quan ở Việt Nam và ở nước ngoài, nhằm thống nhất quản lý thư tịch và tài liệu Hán Nôm trong phạm vi cả nước.
13 - Hệ thống hoá và gìn giữ các văn bản chữ Hán, chữ Nôm và các tư liệu liên quan hiện còn vả sưu tầm được, đảm bảo kỹ thuật bảo tàng và kỹ thuật thư viện, nhăm lưu giữ và cho nhân bản để phục vụ cho công tác nghiên cứu trước mắt và lâu dài. #*' Jể công tác đào tạo cản bộ nghién ciru Han Nôm, Viện được giao nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh và cao học trong nước: * Năm 1994, Viện giao nhiệm vụ là cơ so dao tao Tiến sy. * Năm 1996, Viện được giao nhiệm vụ đảo tạo Thạc sỹ. Trong những năm qua, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã triển khai hoạt động trên các mặt công tác và thu được những thành tựu nhất định, đáp ứng những yêu cầu mà nhà nước giao cho.
Cơ cầu tổ chức của Viện Những năm đâu được thành lập, gồm Lãnh đạo Viện và các phòng Ban như sau: Ban Hán cô, Ban Hán cận, Ban Nôm, Ban văn bản học, Phòng bảo quản, Phòng tư liệu Thư viện, Phòng Hành chính Quản trị tổ chức, phòng Kỹ thuật. Đến năm 1988, căn cứ theo Quyết định 63/KHXH-QĐ, cơ cấu của Viện gồm các phòng nghiên cứu và các phong kỹ thuật nghiệp vụ sau đây: a/ Các phòng nghiên cứu khoa học: - Phòng nghiên cứu Văn tự Hán — Nôm. Phòng văn bản học Hán — Nôm. Phòng nghiên cứu Văn tịch Hán — Nôm ¬ Phòng nghiên cứu Hán Nôm dân tộc và khu vực.
b/ Các phòng kỹ thuật và nghiệp vụ ¬ Phòng sưu tầm ¬ Phòng bảo quản thư tịch cổ 14 - Phong Thong tin - Tư liệu - Thư viện ¬ Phòng phục chế và nhân bản - Phong Hanh chinh — quan tri - Tai vu - Tổ chức Cơ quan ngôn luận của Viện và của ngành Hán Nôm là Tạp chí Hán Nôm. Từ năm 2005 đến nay cơ cấu các phòng ban đã được thay đổi như sau: Lãnh đạo Viện, gồm một Viện trưởng và một phó Viện trưởng. Hội đồng khoa học gồm: Chủ tích hội đồng, thư ký hội đồng và các ủy viên. Tạp chí Hán Nôm: gồm tổng biên tập, phó tổng biên tập và ủy viên hội đồng.
Các phòng giúp việc Viện trưởng Phòng biên tập trị sự. Phòng hành chính tổng hợp. Phòng quản lý khoa học và đào tạo. Phòng nghiên cứu khoa học - Phòng nghiên cứu Văn bản lịch sử địa lý.
- Phòng nghiên cứu Văn bản luật — Tôn giáo. - Phòng nghiên cứu Văn bản Nôm. - Phòng nghiên cứu Văn bản học. - Phòng nghiên cứu Văn khắc.
Các phòng phục vụ nghiên cứu: - Thư viện. - Phòng Bảo quản. - Phòng Sưu tầm. - Phòng ứng dụng công nghệ tin học.
- Trung tâm Thực nghiệm Bảo quản phục chế. 15 SO DO CO CAU TO CHUC CUA VIEN HIEN THOT TẠP CHÍ HÁN NÔM LÃNH ĐẠO VIÊN HỘI ĐỒNG KHOA HOC L1 Tông biên tập [Viện trưởng LI Vận trưởng - Chủ tịch [Phó tông biên tập LH Phó viện trưởng [1 Thư ký Hội dong tre In PB P : P P a9 Q F PHONG HANH CHÍNH n s 8 #e[ T. TÔNG HợP sẽ £ "Q2 ZF a, | las) z 25 zs BEz Qs ũ au ; a Su a [>| | PHONG QUAN LY Spl = _ KHOA HOC & ĐÀO TẠO _ PHONG NC VAN BAN :_ LICHSỬ - ĐỊALÝ ° 8. = ị z < | PHONG NC VAN BAN : 3 + i: * , Eee — z.
š = LUAT- TON GIAO _ : lã = € Iz 3 : : ¡PHÒNG NGHIÊN CỨU 3 » 7 : _ VÂN BẤN NÔM z + & Đ = z : : : m S : PHÒNG NGHIÊN CỨU : = | VAN BAN VAN HOC e h TT. THỰC NGHIỆM _ ¡PHÒNG NGHIÊN CỨU Bảo QUẢN FHCcH| || |_ _ VĂN KHÉC HÁN NÔM 1. Sự hình thành, phát triển vốn tài liệu của Viện Vốn tài liệu Hán Nôm thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm ra đời ít lâu sau năm thành lập Viện 1979, là trung tâm tàng trữ thư tịch và tài liệu Hán Nôm lớn nhất tại Việt Nam hiện nay. Về nguồn gốc vốn tài liệu Hán Nôm: Trước hết là kho sách do Học viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội trao lại năm 1958, hình thành phân kho A, 16 voi ky higu: A, AB, AC, AD, AE, AF, AG, AH, AJ trong tong kho cua Vién.
Thứ đến là sách tiếp nhận thêm trong khoảng thời gian 1958 đến 1979 từ thư viên Long Cương. thư viện Hoàng Xuân Hãn. thư viện Hội Khai trí tiến đức, thư viện Văn Miếu, thư viện Khoa học Trung ương, Vụ bảo tôn bảo thàng, Ty Văn hóa Ha Dong, Truong Dai hoc Tong hợp Hà Nội, Bộ giáo dục đào tạo cộng với số sách sưu tầm trong dân, hình thành phân kho V với các ký hiệu VHb, VHv, VHt, VNv, VNb trong tổng số kho sách chữ Hán Nôm của Viện những những năm đầu thành lập.(23, 22-23) Song song tôn tại với kho sách chữ Hán thì kho sách tiếng Việt cũng được hình thành ngay sau những năm thành lập Viện. Lúc đầu tài liệu tiếng Việt chủ yếu là những tài liệu nội sinh do cán bộ trong Viện dịch từ tài liệu Hán Nôm với các ký hiệu D.
Những tải liệu Hán Nôm, buổi ban đầu khi mới thành lập Viện được các nhà nghiên cứu Hán Nôm chọn ưu tiên dịch những tải liệu quý có giá trị về lịch sử, văn học trước. Những năm tiếp theo cùng tải liệu nội sinh, tài liệu tiếng Việt được bổ sung từ ngoài. Hiện nay kho sách tiếng Việt cũng đã có một số lượng tài liệu khá đồ sộ. Đây là những sách chuyên ngành rất quý cho các nhà nghiên cứu về các ngành khoa học xã hội.
Kho sách tiếng Việt được nhiều độc giả đánh giá cao về chất lượng. Do đặc thù của chữ Han, cht Nom gần VỚI tiếng Trung Quốc hiện đại và cũng do sự giao lưu văn hóa giữ hai nước có lịch sử khá dài nên số lượng sách tiếng Trung và tạp chí tiếng Trung quốc được bố sung hàng năm qua các thời kỳ cũng được một số lượng khá nhiều. Bên cạnh tạp chí tiếng Trung và sách tiếng Trung, Viện Hán Nôm cũng có một số lượng sách tiếng Nhật và sách Latin khác nhưng số lượng sách đó không nhiều 17 1. Những van đề chung về tài liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm 1.1 Khái niệm về tài liệu.
sưu tầm và bảo quản tài liệu. + Khái niệm về tài liệu: Tài liệu là vật thể mang tin trên đó ghi lại những thông tin dưới dạng chính văn, âm thanh hoặc hình ảnh dùng để truyền đạt trong thời gian, không gian nhằm nhằm mục đích bảo quản và sử dụng tài liệu.(30, 118) + Khái niệm về sưu tầm: Công tác sưu tâm tức là bố sung vốn tài liệu trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu và lựa chọn những tài liệu có nội dung tư tưởng tốt, có giá trị khoa học, thự tiễn, nghệ thuật cao để đáp ứng nhu cầu đọc và thong tin của người dùng chính thư viện đó và xã hội.