Chương 1: Thiền phái Trúc Lâm và Thiền sư Pháp Loa Chương 2: Nguồn tư liệu Hán Nom về thiền sư Pháp Loa Chương 3: Hành trạng thiền sư Pháp Loa qua tư liệu Hán Nôm. 7 Pham Văn Tuan, “Khảo về Thanh Mai Viên Thông Tháp Bi”, Tạp chi Hán Nom, sé 6, 2014 NOI DUNG CHUONG 1: THIEN PHAI TRUC LAM VA THIEN SU PHAP LOA Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc qua các thời ki lịch sử. Đến nay Phật giáo đóng góp rất nhiều vào nền văn hóa lịch sử của đất nước ta. Nhưng nổi bật nhất đó thời kì Phật giáo nhà Tran cùng các thiền sư và đặc biệt là Phật giáo Trúc Lâm cùng tam tổ.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu về Phật giáo Trúc Lâm và sự đóng góp cùng hành trạng của ba vị tô. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Sách Thién uyén tập anh cho biết, trước thời kỳ Phật hoàng Tran Nhân Tông cũng như Thiền sư Pháp Loa đắc pháp và bắt đầu hành đạo, ở Việt Nam có ba thiền phái phố biến nhất: Thiền phái Tỳ Ni Da Lưu Chi, Thiền phái Vô Thông Ngôn và Thiền phái Thảo Đường. Khi đó, hoàn toàn chưa có Thiền phái Trúc Lâm với trung tâm là núi Yên Tu, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Trần (1225-1400) chỉ thực sự khởi sắc bởi sự hình thành của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng phái đầu tiên của Phật giáo Việt Nam đã hợp nhất được các tông phái.
Người khởi xướng và được ghi nhận công lao to lớn nhất, xây dựng Thiền phái Trúc Lâm là Phật hoàng Tran Nhân Tông (1258-1308). Ông đồng thời cũng được tôn vinh là Đệ nhất tổ Trúc Lâm. Trong suốt thời gian Phật hoàng Trần Nhân tông hoằng đạo, ông rất tích cực, đi khắp nhân gian, phé độ giáo hoá, khuyên bảo mọi người tuân theo giáo lý Thập thiện của nhà Phật. Điều này xuất phát từ việc Trần Nhân Tông là một ông vua xuất gia, chính vì vậy sức cảm hoá và tầm ảnh hưởng của ông cả trên phương diện chính trị cũng như tôn giáo là không thể chối bỏ.
Dưới ảnh hưởng này, Trúc Lâm đã khởi xướng và xây dựng phong trào Phật giáo nhập thế, đông đảo quần chúng đã hưởng ứng tham gia vào phong trào này. Sau này, ngay cả sau khi Trần Nhân Tông viên tịch, nhờ có sự giúp đỡ của giới quý tộc, người kế thừa y bát của ông là Thiền sư Pháp Loa có thé tiếp tục sự nghiệp giáo hoá, xây chùa dựng tháp, phát triển Phật giáo. Văn bia tháp Viên Thông có ghi lại việc Pháp Loa quyên tiền dựng chùa vào thời kỳ đó. Trong danh sách những người quyên góp để dựng chùa có thé thấy tên của Hoang dé Tran Anh Tông, Hoàng dé Tran Minh Tông, Hoàng Thái hậu Tuyên Từ, Tư đồ Văn Huệ vương Trần Quang Triều, Uy Huệ vương, Thượng Vị hầu Chương Văn, và Trưởng Công chúa Thiên Trinh.
Không phải ai hay dòng phái nào cũng nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của những người thuộc giới quý tộc như vậy. Phật giáo Trúc Lâm phát triển hết sức mạnh mẽ, nhận được nhiều sự hỗ trợ về kinh tế, đặc biệt ở khu vực ngày nay là ba tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương. Chứng tích còn lại đến ngày nay thê hiện ở hệ thống chùa tháp, tự viện dày đặc ở khu vực này. Theo văn bia tháp Viên Thông, vua Trần Anh Tông đã cấp vào chùa 100 mẫu ruộng ở các hương Đội Gia, cấp cả thợ cày cũng như những người giúp việc cho nhà chùa.
Rõ ràng, ngay sau khi thành lập vương triều, các vị vua nhà Trần hết sức lưu tâm đến việc xác lập Phật giáo như là hệ tư tưởng của vương triều, trong đó Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử được coi là hệ tư tưởng chính yếu. Phật giáo dưới thời nhà Trần đã chiếm địa vị chủ đạo trong đời song xa hội, có những ảnh hưởng hết sức sâu rộng đến đời sống văn hóa tâm linh của dân tộc. Không những thế, hệ tư tưởng Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm đã thật sự ăn sâu bám rễ vào tầng lớp vua quan, quý tộc. Các thiền sư dưới thời Trần, một mặt đề cao tính thiền, một mặt đề cao tinh thần nhập thé, tiêu biểu là tư tưởng của Trần Nhân Tông về “cu tran” và “lạc đạo”.
Thượng hoảng Trần Nhân Tông nổi tiếng với quan điểm “cư trần lạc đạo”. Quan điểm này được thể hiện rõ ràng nhất trong tác phẩm Cư tran lạc đạo phú, nghĩa là sông giữa trần gian, nên dé mọi sự tùy duyên mà vui với đạo. Quan điểm này hết sức thú vị nếu xét đến vai trò của Phật giáo nguyên thuỷ đối vấn đề cứu độ chúng sinh, giải thoát chúng sinh khỏi những đau khô trần thé. Phật giáo của Trần Nhân Tông khuyến khích tin đồ và các tu sĩ Phật giáo tu thiền, biết hy xả, và rộng lòng từ bi, tích nhân tích đức.
Đồng thời, lại phải đặt quyền lợi của vương triều lên trước. Điều này hết sức đặc sắc của tư tưởng Phật giáo thời Trần khi đòi hỏi trách nhiệm của các tín đồ Phật giáo với các vấn đề chính trị thế tục. Tôn giáo, cụ thể là Phật giáo đời Trần lúc này không thuần tuý chỉ là một bộ phận của xã hội. Tôn giáo dưới thời Trần không độc lập hay đứng ngoài dòng chảy lớn của chính trị, xã hội mà nó ân chứa bên trong nó những đối sách, những chủ trương của vua quan nhà Trần nhằm giữ gìn quyền lực chính trị của dòng họ.
Các vị vua Trần là những Phật tử, đồng thời, họ cũng là những thiền sư danh tiếng. Họ đã sống, tham gia sâu vào thế cục bằng tinh thần thắm nhuan Phật giáo. Không chỉ trên khía cạnh tư tưởng, chính trị xã hội, Phật giáo giai đoạn này còn ghi dấu ấn đậm nét trên các lĩnh vực văn học nghệ thuật, mỹ thuật, với sự nở rộ của các thể loại văn học như: truyện ký, chính sự, sử học, thơ văn, phú, hịch, v. trong đó có nhiều sáng tác có nguồn gốc hoặc liên quan đến các thiền sư.
Vua Trần Nhân Tông, Thiền sư Huyền Quang đã dé lại những tác phẩm văn học Phật giáo như: Dac thi lâm tuyển thành đạo ca, Cư trần lạc đạo phú, Vinh Vân Yên tự phú. Tác phẩm của Trần Thái Tông gồm có: Kim cang tam muội kinh tự, Thiên tông chỉ nam tự, Khoá hư lục; Tuệ Trung Thượng sĩ sáng tác gần năm mươi bài thơ, kệ; Pháp Loa có Doan sách luc và một chương Thiền đạo gồm bốn bài luận thuyết. Bên cạnh đó, nhiều ngôi chùa, tượng Phật, tháp chuông xuât hiện với những kiên trúc độc đáo mang đậm dâu ân của dân tộc quốc gia Đại Việt. Có thể nói, dưới thời Trần, Phật giáo có ảnh hưởng lớn trên tất cả mọi mặt của đời sống chính trị, tư tưởng, văn hóa của đất nước.
Điều Ngự Trần Nhân Tông, Thiền sư Huyền Quang và mối quan hệ với Thiền sư Pháp Loa Điều Ngự Trần Nhân Tông, Thiền sư Pháp Loa, và Thiền sư Huyền Quang là ba vị tổ sư của Thiền pháp Trúc Lâm Yên Tử, những người quan trọng nhắt, góp phần định hình diện mạo của Trường phái. Phan viết này hướng đến làm rõ mối quan hệ giữa một bên là vi tổ sư đầu tiên của Trúc Lâm Yên Tử: Trần Nhân Tông, và Huyền Quang, tô sư thứ ba của thiền phái với một bên là thiền sư Pháp Loa dé cho thấy vai trò của Pháp Loa đối với lịch sử Phật giáo thời Trần nói chung, và với Trúc Lâm Yên tử nói riêng. Thiền sư Pháp Loa theo Niên phả của Đại tôn giả được đặc biệt phong Phổ Huệ Minh Giác Tịnh Tri trong các vị t6 sư nhà Trần. Ông đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là đối với Phật Giáo thời Trần.
Ông bắt đầu tham gia vào hoạt động của Phật giáo từ khi tuổi đời còn rất trẻ (21 tuổi) khi có nhân duyên được gặp Điều Ngự Trần Nhân Tông khi Nhân Tông trên đường giảng đạo, giáo hoá nhân gian. Nhân Tông nhìn thấy ở ông những dấu hiệu chỉ Trong Phật giáo thì tuổi đời không có tính mà khi vào đạo rồi mới lay tuổi theo dao là tuổi dao. Dựa trên tinh thần bình đăng của Phật giáo, mọi người sinh ở cửa đạo thì như nhau không phân biệt già trẻ giàu nghèo hay nam nữ mà chỉ lấy việc tu làm thước đo sự tỉnh tiến trên con đường tu đạo giải thoát. Sau khi nhận Kiên Cương làm đệ tử xuất gia thì Điều Ngự đặt luôn tên Kiên Cương là Thiện Lai, có nghĩa là khéo biết đến đạo và đến với đạo bằng lòng thân thiện tự nhiên.
Đề hiểu được tâm ý của Điều Ngự, chúng ta chỉ hiểu trên phương diện mặt ngôn từ và phân tích trên ý hiểu cá nhân. Còn tinh thần đạo thì đó là sự vô vi và như đã nói trên là duyên tiền định, là sự kì điệu trong Phật giáo cũng như trong thế giới duy tâm. Đức tin nơi thế giới vô hình đó là niềm tin bất hoại là chỗ dựa tinh thần, văn hóa huyền bí của chúng sinh đặc biệt là cõi nhân. Sau khi Điều Ngự nhận Thiện Lai về và cho thụ giới Sa Di là bước đầu của người xuất gia.
Sau khi nghe Điều Ngự doc bài tán Thái đương ô kê, Thiện Lai có phan chung ngộ nên được cho theo hau bên Diéu Ngự. Lúc này, Thiện Lai đã trở lại với Điều Ngự, sau khi ở Quỳnh Quán một thời gian. Một ngày, Thiện Lai dâng lên ba bài tụng nhưng Điều Ngự khuyên ông phải tự mình tham cứu thêm. Điều này khiến ông buồn phiền, thức tới nửa đêm, đầu óc nặng triu.
Nhưng sau đó, ông bỗng đại ngộ khi nhìn thấy bóng đèn tàn rụng. Từ đó, Điều Ngự đã lặng lẽ ấn khả cho Thiện Lai. Từ đó, ông quyết tâm tu theo 12 hạnh Đầu- đà. Năm 1305, niên hiệu Hung Long thứ 13, Thiện Lai được dich thân Điều Ngự truyền cho Giới B6 Tat và giới Thanh Văn.
Dong thời, Điều Ngự thấy sự tiễn bộ trong tu tập của Thiện Lai nên ban cho ông đạo hiệu Pháp Loa. Niên hiệu Hưng Long thứ 14, Năm 1306, Pháp Loa được Điều Ngự cử làm chủ giảng ở chùa Báo Ân. Tại đây Pháp Loa, khi đó 23 tuổi, gặp được người đệ tử tương lai- Huyền Quang, lần đầu tiên. Khi đó, Huyền Quang đã thọ giới với Bảo Phác, cùng với thầy của mình đến nghe thuyết pháp của Pháp Loa tại chùa Báo Ân.
Thấy vậy, Điều Ngự đã nhận Huyền Quang làm thị giả. Niên hiệu Hưng Long thứ 15 Tháng 4 âm lịch năm 1307, Điều Ngự an cư ở am Thiên Bảo.