CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Bối cảnh quốc tế và khái quát về ASEAN 1. Bối cảnh quốc tế Bối cảnh quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ 2 là bối cảnh của một thế giới đang chuyển biến sâu sắc và phức tạp. Kết thúc chiến tranh thế giới 2, hai siêu cường quốc bấy giờ là Mỹ - Xô bắt đầu tiến vào thời kỳ cạnh tranh gay gắt.
Chiến tranh lạnh là thời kỳ căng thẳng và đối đầu giữa hai siêu cường Liên Xô và Mỹ, kéo dài từ cuối thế chiến II (1945) đến sự tan rã của Liên Xô (1991). Chiến tranh lạnh không phải là một cuộc chiến trực tiếp giữa hai bên, mà là một cuộc chiến tranh ảnh hưởng, tranh giành ưu thế chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa trên toàn thế giới. Thế giới phân chia hai cực do Mĩ – Xô đứng đầu. Hai khối này đã thành lập các liên minh kinh tế, chính trị và quân sự để đối phó với nhau, như NATO và Vác-xa-va.
Chiến tranh lạnh đã kết thúc vào năm 1991 khi Liên Xô tan rã thành các quốc gia độc lập. Sự sụp đổ của Liên Xô được coi là kết quả của những yếu tố nội tại và ngoại lai, như sự suy yếu kinh tế, sự bất mãn của dân chúng, sự cải cách của Gorbachev, sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh…Thế giới sau chiến tranh lạnh đã chứng kiến những biến đổi lớn về quan hệ quốc tế. Một số biến đổi chính là: sự xuất hiện của một thế giới đa cực với nhiều trung tâm quyền lực; sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, khủng bố quốc tế…; sự phát triển của các tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hợp Quốc, ASEAN, EU…; sự hình thành của các diễn biến mới như toàn cầu hóa, thông tin hóa, dân chủ hóa… Mỹ là một siêu cường duy nhất sau năm 1991, khi Liên Xô sụp đổ và kết thúc Chiến tranh Lạnh. Mỹ đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế giới trong nhiều lĩnh vực như 9 kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa…Với vai trò lãnh đạo của mình Mỹ đã liên tiếp gây dựng sự ảnh hưởng của mình đối với thế giới trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2010 với nhiều hoạt động như: Mỹ đã dẫn đầu các cuộc can thiệp quân sự và ngoại giao ở nhiều nước và vùng lãnh thổ như Somalia (1993), Hai-ti (1994), Kosovo (1999), Afghanistan (2001), Iraq (2003), I-ran (2006), Libya (2011)… để bảo vệ an ninh quốc gia của Mỹ, chống khủng bố và vũ khí hạt nhân, thúc đẩy dân chủ và nhân quyền, ổn định khu vực… Năm 1993 là năm đầu tiên của nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton, người đã thực hiện các chính sách về kinh tế, an ninh, ngoại giao và xã hội như ký Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ NAFTA (1994).
Sau đó là APEC (1994), WTO (1995), TPP (2005)… để mở rộng thị trường và bảo vệ lợi ích kinh tế của Mỹ và các đối tác. Mỹ đã phát triển và lan tỏa các công nghệ mới như internet, máy tính cá nhân, điện thoại thông minh, mạng xã hội… để tạo ra những cơ hội kinh doanh, giao tiếp và giáo dục mới cho người dân trên toàn thế giới. Mỹ cũng là nơi thu hút các nhà khoa học và doanh nhân tài năng từ khắp nơi trên thế giới… Mỹ đã tham gia và ảnh hưởng đến các tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hợp Quốc, NATO, G7, G20… để duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật pháp và cởi mở, hỗ trợ các đồng minh và đối tác của Mỹ… Toàn cầu hóa đã thúc đẩy sự giao lưu kinh tế, văn hóa và xã hội giữa các quốc gia, tạo ra một mạng lưới toàn cầu phức tạp và liên kết chặt chẽ. Sự bùng nổ của công nghệ số và Internet đã làm thay đổi cách thức các quốc gia ASEAN kinh doanh và giao tiếp.
Chính vì vậy mà sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc đã có ảnh hưởng lớn đến ASEAN. Trung Quốc với tư cách là đối tác thương mại lớn có sức ảnh hưởng đến nhiều quốc gia và trong khu vực, Mỹ lại là siêu cường đơn cực và là đối tác chiến lược cũng đồng minh quan trọng. ASEAN phải duy trì cân bằng trong quan hệ với cả hai cường quốc này. Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất nhưng đã phải đối mặt với sự suy yếu về kinh tế, quân sự và uy tín.
Trung Quốc đã tham gia và khởi xướng nhiều dự án hợp 10 tác khu vực và toàn cầu như Nhà máy Điện hạt nhân Thượng Hải (SCO), Khu vực Thương mại Tự do Toàn diện Khu vực (RCEP), Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI)… Nga cũng đã phục hồi vai trò của mình trên thế giới bằng cách can thiệp vào các cuộc xung đột ở Ukraine, Syria… và gia nhập các liên minh chiến lược với Trung Quốc, I-ran… EU cũng đã phải đối mặt với nhiều khó khăn như Brexit, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng di dân… và tìm cách duy trì vai trò của mình trong thế giới đa cực. Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp cải cách và mở cửa kinh tế từ cuối những năm 1970, hấp dẫn vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường thương mại quốc tế và tham gia các tổ chức kinh tế quan trọng như WTO, APEC, ASEAN+3. Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc về tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, phát triển công nghệ và vũ trụ, đầu tư hạ tầng và năng lượng… Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ và có khả năng vượt Mỹ vào năm 2035. Mỹ và Trung Quốc đã có nhiều cuộc đối đầu và xung đột ở nhiều lĩnh vực như thương mại, công nghệ, quân sự, nhân quyền, dịch bệnh… Mỹ cũng đã tăng cường sự hiện diện và hỗ trợ cho các đồng minh và đối tác ở khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Ấn Độ… để duy trì trật tự dựa trên luật pháp và cân bằng chiến lược.
Trung Quốc cũng đã cố gắng tìm kiếm các đồng minh và đối tác ở khu vực để phá vỡ sự bao vây của Mỹ, tranh giành thị trường và nguồn lực, phục vụ cho lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Bên cạnh đó cả Ấn Độ và Nhật Bản cũng đã và đang tìm cách tăng cường ảnh hưởng của họ trong khu vực thông qua đầu tư, hợp tác kinh tế và các sáng kiến an ninh. Cùng với bối cảnh thế giới thay đổi và biến hóa không ngừng sau chiến tranh lạnh, ASEAN đã có những thay đổi quan trọng trong cả mặt nội bộ và đối ngoại. Về nội bộ, ASEAN đã mở rộng thành viên, từ 6 nước lên 10 nước, bao gồm cả Việt Nam, Lào, Campuchia và My-an-mar.
ASEAN cũng đã tăng cường hợp tác kinh tế, an ninh, xã hội và văn hóa giữa các thành viên trong nước, nhằm xây dựng một cộng đồng 11 ASEAN chặt chẽ và đoàn kết. Ngược lại, ASEAN đã phát triển quan hệ hợp tác với nhiều đối tác quan trọng như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga… ASEAN cũng đã đóng vai trò trung tâm trong các cơ chế hợp tác khu vực, như ARF, APEC, EAS, ADMM+… ASEAN đã khẳng định vị trí và vai trò của mình trong việc duy trì hòa bình, ổn định và phát triển khu vực. Khái quát về ASEAN Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập năm 1967. Đi cùng với đó là các mục tiêu được 5 thành viên đặt ra là tăng cường hợp tác an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Cùng với quá trình hội nhập và biến đổi tình hình khu vực và trên thế giới mà cách tiếp cận cũng như sự cởi mở của các thành viên trong hiệp hội lúc đầu cũng dần dần có sự thay đổi, chuyển biến sâu sắc và phát triển tích cực qua thời gian. Qua thời gian cũng với những biến đổi thời cuộc và tác động của toàn cầu hóa mà quá trình phát triển ASEAN đã có những thay đổi quan trọng trong sự phát triển đó là tiến hành mở rộng và kết nạp các thành viên gồm: Inđônexia, Ma-lay-si-a, Phillipns, Singapor, Thái Lan, Brunay, Việt Nam, Lào, My-an-ma và Campuchia. ASEAN đã trải qua một hành trình dài từ khi thành lập với 5 thành viên ban đầu đến một tổ chức khu vực mạnh mẽ gồm 10 quốc gia. Quá trình phát triển của ASEAN được đánh dấu bằng sự mở rộng thành viên, sự hội nhập kinh tế và tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực.
Với mục tiêu thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực, ASEAN tiếp tục là một khối quan trọng và có ảnh hưởng lớn trong bối cảnh quốc tế hiện nay. ASEAN sẽ ngày càng phát triển và tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên từ an ninh-chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hoá, giáo dục, xã hội…Và qua đó ASEAN ngày càng tăng cường vị thế và vai trò quan trọng trong và ngoài khu vực thông qua các chương trình cải cách, hợp tác như ASEAN+1, ASEAN+3, Diễn đàn khu vực ASEAN. Năm 2007 thông qua hiến chương ASEAN 12 cũng đã nhất trí và tăng cường liên kết hơn giữa các nước thành viên nhằm xây dựng một cộng đồng ASEAN vững mạnh và tăng cường vị thế vai trò của Hiệp hội trên trường thế giới. Mục tiêu và Phương thức hoạt động của ASEAN Trong Tuyên bố ASEAN, hay còn gọi là Tuyên bố Bangkok, năm 1967 nêu rõ mục tiêu và mục đích của ASEAN.
ASEAN (Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á) có mục tiêu và phương thức hoạt động chính như: - Thúc đẩy Tăng Trưởng Kinh Tế: ASEAN khuyến khích sự hợp tác toàn diện giữa các quốc gia thành viên trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến khoa học kỹ thuật. Đồng thời, tổ chức cũng hỗ trợ các quốc gia thành viên trong việc đối phó với các thách thức chung như thiên tai, biến đổi khí hậu, và các vấn đề an ninh phi truyền thống. - Bảo vệ và thúc đẩy các giá trị chung: ASEAN cam kết bảo vệ các giá trị cơ bản như dân chủ, nhân quyền và pháp quyền. Tổ chức này cũng nỗ lực thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên và các dân tộc trong khu vực.
- Xây dựng một cộng đồng ASEAN đoàn kết và tự cường: ASEAN hướng đến việc xây dựng một cộng đồng khu vực gắn kết, tự cường và đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề khu vực và toàn cầu, thông qua việc tăng cường vai trò và vị thế của tổ chức này trên trường quốc tế.