phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có ba chương chính: C ươn : Tầm quan trọng của nhân tố dầu mỏ trong quan hệ Nga – EU C ươn 2: Thực trạng quan hệ dầu mỏ Nga –EU từ năm 2000 đến nay C ươn 3: Tác động của dầu mỏ đến một số lĩnh vực nổi bật trong quan hệ Nga – EU và triển vọng mối quan hệ trong tương lai 9 z Chƣơng 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA NHÂN TỐ DẦU MỎ TRONG QUAN HỆ NGA - EU 1. Vai trò của dầu mỏ trong nền kinh tế các nƣớc 1. i niệ chung về năng lượng, dầu mỏ a) Năn lượng Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa về năng lượng: theo từ điển Tiếng Việt: “năng lượng là đại lượng vật lí cho khả năng sinh ra công của một vật”; Đại từ điển Bách khoa toàn thư tiếng Anh định thì cho rằng: năng lượng “là thuật ngữ bao gồm nhiệt năng, thủy năng và ánh sáng, con người có khả năng chuyển hóa thích hợp để cung cấp nhu cầu năng lượng cho chính mình”2; từ điển Hán ngữ hiện đại định nghĩa năng lượng là “những vật chất có thể sản sinh ra năng lượng như: nhiệt năng, thủy năng…”. Khái niệm năng lượng được phổ cập ở hầu hết khắp các quốc gia và cấp độ toàn cầu.
Người ta căn cứ vào những loại hình (khí hóa lỏn , xăn dầu, đ n lực…); quá trình hình thành (năn lượng có sẵn, năn lượn đến từ thiên thể, năn lượng do tác dụng của tr đất…); trình độ và cách sử dụng (năn lượng truyền thống, năn lượng mới); phương pháp khai thác (khai thác từ tự nhiên, chuyển hóa, gia côn …); khả năng tái sinh (năn lượng tái sinh và không tái sinh) và căn cứ vào mức độ ảnh hưởng đến môi trường (năn lượng sạc , năn lượng không sạc …) để định nghĩa năng lượng. Tuy nhiên, khái niệm năng lượng được hiểu chung nhất là các nguồn tài nguyên, nhiên liệu cung cấp, phục vụ cho đời sống, sản xuất và các nhu cầu thiết yếu của con người. Năng lượng là một trong những điều kiện của sự sống còn và phát triển của mỗi con người và toàn nhân loại. Điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kì nền văn minh nào đều là năng lượng.
Ba loại hình năng lượng quan trọng nhất là dầu mỏ, than đá và khí hóa lỏng, có ảnh hưởng lớn nhất đến mọi đời sống của con người 2 Luận án Tiến sĩ Lịch sử Chính sách an ninh năn lượng của Trung Quốc trong những năm đầu thế kỉ XXI của Nguyễn Minh Mẫn ,Đại học KHXH-NV TP. 10 z b) Dầu mỏ, k í đốt Dầu mỏ là một loại tài nguyên khoáng sản quý mà thiên nhiên ban tặng cho con người. So với các khoáng sản khác như than đá, đồng, chì, nhôm, sắt…thì dầu mỏ được con người biết đến và sử dụng tương đối muộn hơn. Dầu mỏ là hợp chất hydrocacbon được khai thác lên từ lòng đất, thường ở thể lỏng và thể khí.
Ở thể khí, chúng bao gồm khí thiên nhiên và khí đồng hành, trong đó khí thiên nhiên là toàn bộ hydrocacbon ở thể khí khai thác từ giếng khoan bao gồm cả khí ẩm và khí thô; còn khí đồng hành là khí tự nhiên nằm trong các vỉ dầu dưới dạng mũ khí hoặc khí hoà tan và được khai thác đồng thời với dầu thô. Ở thể lỏng, chúng là một chất lỏng sánh đặc màu nâu và ngả lục, tồn tại rải rác trong các lớp đất đá của vỏ trái đất; là hỗn hợp hóa chất hữu cơ thể lỏng đậm đặc, phần lớn là các hợp chất của Hydrocarbon, thuộc gốc Alkane và có thành phần rất đa dạng. Dầu mỏ được dùng để sản xuất dầu hỏa, dầu diezen và xăng nhiên liệu. Ngoài ra còn dùng để sản xuất dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu và nhựa đường,….
Dầu mỏ là trong những nguyên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải; được sử dụng trong công nghiệp hoá dầu để sản xuất các chất dẻo và nhiều sản phẩm khác. Dầu mỏ mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các quốc gia trên thế giới đang sở hữu và tham gia trực tiếp kinh doanh nguồn tài nguyên này. Hiện nay, trong cán cân năng lượng, dầu mỏ vẫn giữ vai trò quan trọng nhất so với các dạng năng lượng khác. Cùng với than đá, dầu mỏ cùng các loại khí đốt khác chiếm tới 90% tổng tiêu thụ năng lượng toàn cầu.
Không ít các cuộc chiến tranh, các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị có nguyên nhân sâu xa từ các hoạt động cạnh tranh sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực dầu mỏ. Không phải ngẫu nhiên mà giá cổ phiếu của các công ty sản xuất kinh doanh dầu mỏ biến động tùy thuộc rất lớn vào những kết quả tìm kiếm thăm dò của chính các công ty đó trên thế giới. Lợi dụng hiện tượng biến động này, không ít các những thông tin không đúng sự thật về các kết quả thăm dò dầu mỏ được tung ra làm điêu đứng những nhà đầu tư chứng khoán trên lĩnh vực này, thậm chí làm khuynh đảo cả chính sách của các quốc gia. 11 z Vai trò và ý nghĩa của dầu khí nói chung trong đó có dầu mỏ càng trở nên quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Không chỉ là vấn đề thu nhập kinh tế đơn thuần, trong những năm qua dầu mỏ đã góp phần đáng kể vào ngân sách các quốc gia, làm cân đối hơn cán cân xuất nhập khẩu thương mại quốc tế, góp phần tạo nên sự phát triển ổn định. Hơn thế nữa, với sự ra đời của dầu mỏ đã giúp các quốc gia chuyển sang thế chủ động trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp, tiếp thu công nghệ hiện đại của nước ngoài, phát triển ngành nghề dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm. Đồng thời, dầu mỏ có thể chủ động đảm bảo cung cấp nhiên liệu cho các ngành kinh tế quốc dân, cung cấp nhiên liệu cho các ngành công nghiệp khác. Thực trạng các nguồn dầu mỏ trên thế giới Là nguồn tài nguyên có sẵn trong thiên nhiên nên dầu mỏ có sự phân bố không đều về trữ lượng giữa các khu vực trên thế giới.
Ba khu vực có trữ lượng dầu mỏ nhiều nhất thế giới là Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á và Bắc Mĩ. Chỉ riêng khu vực này đã chiếm 82,3% trữ lượng dầu mỏ thế giới, trong đó khu vực Trung Đông chiếm 64%, châu Mĩ (14%), châu Phi (7%), Nga (4,8%), châu Á - Thái Bình Dương (4,27%)3. Theo đánh giá của Tổ chức Dầu mỏ và Khí đốt thế giới (2009), tình hình phân bố dầu ở một số khu vực trên thế giới như sau: - Trun Đôn là khu vực có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt lớn nhất thế giới, trữ lượng dầu mỏ chiếm hơn 50% tổng trữ lượng dầu mỏ thế giới với 727,314 tỷ thùng dầu và gần ½ trữ lượng khí đốt thế giới, trong đó, Saudi Arabia (266,710 tỉ thùng), Iran (136,150 tỉ thùng), Iraq (155 tỉ thùng), Kuwait (104 tỉ thùng), UAE (97,8 tỉ thùng)4. Đây là những nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất khung vực Trung Đông.
Về trữ lượng khí đốt, Iran (991,6 tỉ thùng), Qatar (890 tỉ thùng), Saudi Arabia (258 tỉ thùng). - Châu Phi là khu vực có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ 4 thế giới với 117,064 (tỉ thùng), chiếm 10% tổng trữ lượng dầu mỏ thế giới, còn trữ lượng khí đốt xếp thứ 3 Luận án Tiến sĩ Lịch sử Chính sách an ninh năn lượng của Trung Quốc trong những năm đầu thế kỉ XXI của Nguyễn Minh Mẫn ,Đại học KHXH-NV TP. 4 Cơ quan thông tin về năng lượng, EIA, 03/03/2009. 12 z 3 thế giới, với 494,078 (tỉ thùng)5.
Trong đó, trữ lượng dầu mỏ của Libya chiếm 3,4%, Nigeria chiếm 3% tổng trữ lượng dầu thế giới; Còn khí đốt, Nigeria đứng thứ 7, với 184,2 (tỉ thùng) và Algeria đứng thứ 9 với 159 (tỉ thùng)6. - Liên bang Nga, dự trữ khí đốt vào khoảng 47,2 - 47,5 nghìn tỉ m3, hơn 70% trữ lượng thăm dò tập trung vùng Ural - Tây Xiberia, dự trữ về dầu lửa chiếm 13% toàn thế giới, trữ lượng thăm dò ước tính khoảng 15,5 - 15,7 tỉ tấn, đứng sau Saudi Arabia và 4/5 trữ lượng dự báo tập trung ở vùng Xiberi. - Trung Á là khu vực hàng đầu thế giới về trữ lượng dầu khí và gaz tự nhiên, tập trung chủ yếu ở Kazakhstan, Turkmenistan và Uzbekistan, trong đó, Kazakhstan có trữ lượng dầu mỏ đứng thứ 7 thế giới, với khả năng khai thác hiện nay là 4 tỉ tấn, trữ lượng khí đốt có thể khai thác là 3. - Mĩ Lat n , theo Tổ chức Năng lượng Mỹ Latinh (OLADE), trữ lượng dầu lửa của khu vực đã được xác định là gần 1,7 ngàn tỷ thùng, chiếm 20% tổng trữ lượng dầu lửa toàn cầu.
Mỹ Latinh còn là khu vực có trữ lượng dầu lửa lớn thứ 2 thế giới sau khu vực Trung Đông (chiếm 55% trữ lượng dầu lửa toàn cầu)7. Hiện nay, ít nhất 345 tỷ thùng dầu lửa ở Mỹ Latinh đã sẵn sàng để khai thác. Các nước có trữ lượng lớn về dầu lửa của khu vực là Venezuela, Brazil, Mehico, Ecuardo… - Biển Đôn , theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỉ thùng, với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng.
Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm, duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới. Nhìn chung, trữ lượng dầu mỏ, khí đốt chỉ tập trung ở một số quốc gia, khu vực, đặc biệt là các nước vùng Vịnh, Trung Á, Bắc Phi, vùng sông Niger… Vị trí địa lý ưu đãi cho các khu vực cơ hội khai thác và sản xuất đầy tiềm năng không 5 Cơ quan thông tin về năng lượng, EIA, 03/03/2009. 6 Cơ quan thông tin về năng lượng, EIA, 03/03/2009.vn/news/vn/quoc-te/dau-tien-quyen-luc/my-latinh-chiem-20-tru-luong- dau-lua-toan- cau. 13 z những đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng trong nước đang ngày càng cao mà còn xuất khẩu.
Song làm thế nào để phát huy tối đa lợi thế này thực sự vẫn còn là một vấn đề đặt ra đối với chính các quốc gia nói trên và đối với cả thế giới.