Chương 1, phần 1 của luận văn này được tổng hợp và phân tích dựa trên nhiều dữ liệu, sự kiện lịch sử và các văn bản pháp luật được nêu trong cuốn sách này. Một số tài liệu bổ trợ cho luận văn bao gồm các bài viết của tác giả Trịnh Cường, “Châu Phi trong chiến lược của các nước lớn”, đăng tên Tạp chí Cộng Sản, số 7 (753) năm 2006. Bài viết này có đề cập đến quốc gia Algeria, nơi mà PV Drilling đang là tiên phong trong việc khoan dầu, đánh dấu ý nghĩa chính trị của Việt Nam tại quốc gia Bắc Phi đầy tiềm năng này. Bài viết có nêu một số điểm mạnh trong chính trị của Algeria đối với các quốc gia khu vực Địa Trung Hải như Italy, Pháp, khu vực bán đảo Balkan.
Bài viết của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, “An ninh dầu lửa: Vấn đề và giải pháp tại các nước Đông Nam Á”, đăng trên Tạp chí Cộng Sản, mục Những vấn đề kinh tế thế giới, số 5 (121) năm 2006 có đề cập đến an ninh tại Biển Đông khi mà các giàn khoan của Hoa Kỳ, Châu Âu đang hiện diện dày đặc, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu đến chính trị an ninh trên biển, cũng như các vấn đề an ninh về nguồn dầu lửa bị khai thác trộm tại Biển Đông. Vì Việt Nam thời kỳ 2000-2007 chưa phát triển ngành lọc dầu và chế biến dầu thô, do đó các hợp đồng hợp tác với nước ngoài chủ yếu là chia sản phẩm, nên gây ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý, khi đối tác có thể khai man, khai dối các sản lượng dầu để làm lợi riêng. Thông tấn xã Việt Nam năm 2006 cũng có bài viết, “Hợp tác năng lượng Trung Quốc – ASEAN”, mục Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 96, 26/4. Bài viết đã có đề cập đến chiến lược dùng giàn khoan di động để gây Footer Page 11 of 107.
Header Page 12 of 107. 4 ảnh hưởng chính trị tại Biển Đông của Trung Quốc, đồng thời đề nghị chính phủ Việt Nam quan tâm hơn đến ngành công nghiệp khoan dầu khí, đặc biệt là đóng giàn khoan của Việt Nam. Đây chính là số ít tài liệu có đề cập đến ngành khoan dầu khí của Việt Nam thời kỳ 2001-2007. Các văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII, lần thứ IX, lần thứ X cũng đóng góp cho tác giả các thông tin về chính sách ngoại giao của Việt Nam thời kỳ 1990 – 2006, góp phần giúp cho tác giả bám sát đề tài theo ngành quan hệ quốc tế, tránh việc đi quá sâu về các khía cạnh phân tích Marketing hay Kinh tế.
Các văn kiện này cũng góp phần giúp tác giả khái quát được các chính sách phát triển ngoại giao của chính phủ Việt Nam thông qua nhiều chính sách như “Việt Nam muốn là bạn của các quốc gia trên thế giới”- văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VII năm 1991, sang chính sách “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác đối tác của các nước trên thế giới” – văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ X năm 2006. Nguồn tài liệu quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn này chính là các Báo Cáo Thường Niên của PV Drilling, tác giả đã sử dụng các số liệu của Báo Cáo Thường Niên PV Drilling từ năm 2006 đến năm 2013 để phục vụ cho việc viết luận văn. Các báo cáo này đề cập rất nhiều đến quá trình hình thành và phát triển của PV Drilling, đồng thời cung cấp các số liệu về phát triển kinh doanh, về các công ty con, về các công ty liên doanh nước ngoài… Tác giả cũng dựa vào nhiều tài liệu khác nhau của các đơn vị thành viên PV Drilling để tổng hợp và cô đọng lại để hoàn thành luận văn.2 Tài liệu Tiếng Anh Trong các tài liệu tiếng Anh, tác giả sử dụng chủ yếu là báo cáo của các tổ chức quốc tế mà PV Drilling đang tham gia hoặc đang là thành viên. Trong số các tài liệu này, cụ thể là báo cáo thường niên của Tổ Chức IADC và các công ty Dầu khí quốc tế như BP, Vantage, SeaDrill… các tài liệu đã cung cấp cho tác giả các số liệu, dữ kiện để đi đến so sánh mức độ tương quan và hình dung ra vị trí của PV Drilling trên bản đồ thị trường khoan thế giới.
Ngoài ra, căn cứ vào các tài liệu riêng của PV Drilling về Footer Page 12 of 107. Header Page 13 of 107. 5 quan hệ hợp tác với các nhà thầu khoan quốc tế khác, tác giả đã có cái nhìn khách quan về việc hợp tác quốc tế giữa PV Drilling với các nhà thầu khoan thế giới, từ đó đưa ra được nhận xét cái được cái mất cho những mối quan hệ hợp tác này. Sau khi đánh giá được mức độ thành công của mối quan hệ hợp tác, tác giả đã có nhận xét và đưa ra giải pháp để cải tiến cho các mối quan hệ tiếp theo trong tương lai.
Tuy nhiên, để những giải pháp cải tiến này có hiệu quả thực sự, tác giả cần có những phép thử và trong giới hạn của luận văn, cũng như tính chất doanh nghiệp, việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp đưa ra trong luận văn này chưa rõ ràng. Ngoài những tài liệu nêu trên, tác giả còn sử dụng một số bài viết của các tác giả viết về chính trị quốc tế, trong số đó có bài viết của tác giả Richard Giragosian , “East Asia tackles energy security”, đăng tên tạp chí Asia Times, số ra ngày 24 tháng 8 năm 2004. Bài viết này đề cập đến tình hình chính trị phức tạp tại Biển Đông, khi vùng biển này được tìm thấy với trữ lượng dầu khí khổng lồ bên dưới. Các chi tiết này đã giúp tác giả hiểu rõ hơn về cách nhìn nhận của các quốc gia khác về vị thế của Việt Nam tại biển Đông, đồng thời cũng đưa ra được ý kiến về việc giàn khoan biển là các công cụ chiến lược cho việc đảm bảo đường biên giới trên biển giữa các quốc gia.
Sách của tác giả Sonya Fatah, “A Pipeline or a Pipe Dream”, in tại nhà xuất bản Fortune năm 2005, ấn phẩm số 23 (152), tại trang 24-26 của sách, tác giả có đề cập đến việc các đường ống dẫn dầu khí chính là các vũ khí để đánh dấu lãnh thổ trên biển. Đồng thời, tác phẩm này còn đưa ra một số quan điểm về ngoại giao dầu khí, mà trong đó ngành khoan là một lĩnh vực thể hiện trình độ khoa học kỹ thuật một quốc gia. Tác giả đã sử dụng quan điểm này để đưa ra các đánh giá về ngành khoan dầu khí Việt Nam đã phát triển đến đâu và đã góp phần đẩy mạnh hình ảnh chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế như thế nào. Trong sự hạn chế của tài liệu về đề tài, tác giả đã cố gắng tổng hợp những tài liệu, số liệu, dữ kiện quan trọng để hoàn thành luận văn với những ý kiến khách quan và chủ quan.
Mục đích nghiên cứu của đề tài Footer Page 13 of 107. Header Page 14 of 107. 6 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí trong giai đoạn 2001-2010, đồng thời phân tích, đánh giá quá trình hợp tác quốc tế của đơn vị này đối với các đối tác nước ngoài trong lĩnh vực khoan dầu khí – một lĩnh vực quan trọng của ngành năng lượng Việt Nam; luận văn cũng bước đầu đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này đối với Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí nói riêng và ngành dầu khí Việt Nam nói chung. Nhiệm vụ nghiên cứu Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu như sau: - Tìm hiểu về chủ trương hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này của chính phủ Việt Nam.
- Tìm hiểu về các chỉ tiêu nâng cao năng lực hợp tác quốc tế trong việc cung cấp dịch vụ giàn khoan biển. - Tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nâng cao năng lực hợp tác quốc tế trong cung cấp dịch vụ giàn khoan biển. - Tìm hiểu về thị trường khoan Châu Á Thái Bình Dương: đặc điểm thị trường, tình hình cung cấp giàn khoan biển và các chính sách pháp lý có liên quan. - Tìm hiểu về các quốc gia tiên tiến trong lĩnh vực cung cấp giàn khoan biển trên thế giới, cụ thể là các đối tác tại khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu.
- Tìm hiểu về thị trường khoan khu vực Bắc Phi: đặc điểm thị trường, tình hình cung cấp giàn khoan đất liền và các chính sách pháp lý có liên quan. - Nêu ra sự cần thiết phải nâng cao năng lực hợp tác quốc tế của dịch vụ cung cấp giàn khoan biển của PV Drilling. - Phân tích thực trạng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoan dầu khí giàn PV Drilling ở thị trường Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 2001-2010. - Tìm hiểu quan điểm của Nhà nước về phát triển Ngành Dầu khí, định hướng, mục tiêu phát triển của PV Drilling trong giai đoạn 2011-2020.
Footer Page 14 of 107. Header Page 15 of 107. 7 - Đưa ra một số giải pháp đối với PV Drilling nhằm nâng cao năng lực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoan dầu khí của PV Drilling trong giai đoạn 2011-2020. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu khí của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch Vụ Khoan Dầu khí ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, khu vực Bắc Phi, khu vực Bắc Mỹ, Khu vực Tây Âu.
Về thời gian: Đề tài tập trung phân tích thực trạng hợp tác quốc tế của dịch vụ cung cấp giàn khoan biển của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch Vụ Khoan Dầu khí ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, khu vực Bắc Phi, khu vực Bắc Mỹ, Khu vực Tây Âu trong giai đoạn 2001-2010 và đưa ra giải pháp cho giai đoạn 2011-2020. Về không gian: Đề tài phân tích năng lực hợp tác quốc tế của dịch vụ cung cấp giàn khoan biển của Tổng Công Ty Cổ Phần Khoan và Dịch Vụ Khoan Dầu khí ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, khu vực Bắc Phi, khu vực Bắc Mỹ, Khu vực Tây Âu trên cơ sở so sánh với các đối thủ cạnh tranh như Transocean, Seadrill.