Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đinh Xuân Bách tại Trường Đại học Thương mại, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Bích Loan và PGS.TS Đinh Văn Thành, chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 9.10), bảo vệ vào tháng 12 năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 của Chính phủ Việt Nam, mục tiêu dài hạn đặt ra là bảo đảm an ninh năng lượng, cung cấp đủ năng lượng với chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời hình thành và phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh lành mạnh. Triển khai Quyết định số 63/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định lộ trình, các điều kiện và cơ cấu ngành điện để hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam, thị trường điện đã vận hành chính thức từ ngày 01/7/2012 qua hai giai đoạn: thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM) và thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM).
Sau 11 năm vận hành, quy mô thị trường có sự gia tăng về số lượng đơn vị phát điện và công suất đặt. Tuy nhiên, việc chuyển tiếp sang các giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (VREM), gặp nhiều vướng mắc bắt nguồn từ đặc thù kỹ thuật của hệ thống điện, cơ cấu tổ chức ngành điện, sự chi phối của doanh nghiệp nhà nước và những hạn chế trong quản lý nhà nước vĩ mô. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu thị trường hàng hóa thông thường, hoặc chỉ xem xét thị trường điện dưới góc độ kỹ thuật, kinh tế phát triển và bài báo tổng quan nhỏ lẻ, chưa có công trình tiếp cận toàn diện từ góc độ Quản lý kinh tế để làm rõ cơ chế vận hành, tiêu chí đánh giá và giải pháp quản lý nhà nước cho các cấp độ phát triển thị trường điện tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích cốt lõi của luận án là xác lập cơ sở lý luận và nghiên cứu đánh giá thực tiễn nhằm đề xuất hệ thống các giải pháp có luận cứ khoa học, phù hợp với thực tế phát triển thị trường điện tại Việt Nam theo từng cấp độ, đặc biệt là thị trường bán lẻ điện cạnh tranh.
Câu hỏi nghiên cứu
Tác giả xác định 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Thị trường điện cạnh tranh là gì? Các bộ phận cấu thành thị trường điện cạnh tranh?
- Tiêu chí nào đánh giá sự phát triển và các yếu tố tác động đến phát triển thị trường điện cạnh tranh?
- Thực trạng vận hành các cấp độ phát triển của Thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam giai đoạn 2012-2023 có những hạn chế, vướng mắc gì?
- Thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam giai đoạn 2024-2030 cần phát triển theo định hướng, lộ trình như thế nào? Các cơ quan quản lý nhà nước, EVN,... cần làm gì để thị trường điện Việt Nam phát triển an toàn, minh bạch, hiệu quả, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia thị trường?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường điện cạnh tranh.
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận từ chuyên ngành Quản lý kinh tế, tập trung phân tích đặc điểm, bộ phận cấu thành, mô hình tổ chức, tiêu chí đánh giá và các yếu tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô (chính sách, bộ máy quản lý, hoạt động điều tiết của Cục Điều tiết Điện lực) cùng môi trường ngành tác động đến thị trường điện. Luận án không đi sâu vào các yếu tố kỹ thuật điện thuần túy.
- Phạm vi không gian: Hệ thống điện và thị trường điện Việt Nam, bao gồm các chủ thể: đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), 5 tổng công ty điện lực, các nhà máy điện tham gia trực tiếp và các đơn vị tham gia gián tiếp (nhà máy điện BOT, nguồn năng lượng tái tạo hưởng giá FIT, nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu SMHP), cơ quan điều tiết điện lực và khách hàng dùng điện.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2012-2023; đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2024-2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan tài liệu nghiên cứu theo 3 nhóm nội dung chính:
Nhóm nghiên cứu về mô hình và xu hướng phát triển thị trường điện
- Nghiên cứu quốc tế: Yago Saez và cộng sự (2015, 2016, 2017) phân tích thị trường điện châu Âu với cơ chế Khớp nối thị trường dựa trên dòng chảy (FBMC) nhằm phân bổ công suất xuyên biên giới, ứng dụng thuật toán rừng ngẫu nhiên (Random Forest) để dự báo cân bằng giá và chỉ ra xung đột tiềm tàng giữa việc phát triển năng lượng tái tạo với lưới truyền tải khi hạ tầng không theo kịp. Các tác giả thảo luận về thiết kế thị trường đáp ứng mục tiêu kép: hiệu quả ngắn hạn và thu hút đầu tư dài hạn. Poria Astero, Bong Jun Choi và Marius Buchmann xem xét hạn chế của hệ thống trong lưới phân phối thông minh khi tích hợp năng lượng tái tạo và phụ tải mới. Mohammad Ali Motafakker Azad, Mohsen Pourebadollahan Covich và Sakineh Sojoodi (2015) nghiên cứu tác động của việc thiết lập thị trường điện cạnh tranh đến hiệu quả kỹ thuật của nhà máy nhiệt điện tại Iran. JM Uribe, S Mosquera-López và M Guillen (2020) nghiên cứu thị trường Nord Pool, chỉ ra sự phân bổ phần đuôi của giá điện tạo rủi ro bất cân xứng giữa người mua và người bán. Shahab Bahrami và M. Hadi Amini (2018) đề xuất thuật toán giao dịch phi tập trung nhằm giảm thiểu rủi ro phát điện không chắc chắn từ năng lượng tái tạo. Corinna Klessmann, Christian Nabe và Karsten Burges (2008) so sánh mô hình tích hợp năng lượng tái tạo tại Đức, Tây Ban Nha và Anh.
- Nghiên cứu trong nước: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoài Nam (2018) về "Phát triển thị trường điện lực tại Việt Nam" tổng hợp lộ trình quốc tế, phân tích cấu trúc thị trường tập trung chào giá theo chi phí biến đổi (Cost-Based Pool), song tiếp cận dưới góc độ Kinh tế phát triển và giới hạn dữ liệu trước năm 2018. Bài báo của Trần Đăng Khoa (2018) phân tích 35.000 giờ lấy mẫu tại cụm nhà máy Phú Mỹ thuộc EVN để kiểm định tính hiệu quả thị trường VCGM theo lý thuyết Fama, đưa ra kết luận VCGM chưa đạt hiệu quả cao và đề xuất điều chỉnh cơ chế hợp đồng cùng giá trần thị trường.
Nhóm nghiên cứu về tiêu chí đánh giá sự phát triển thị trường
Tác giả điểm luận các công trình về tiêu chí thị trường hàng hóa dịch vụ thông thường nhằm làm cơ sở kế thừa: Đinh Văn Tuyên (2014) phân chia tiêu chí thành 3 nhóm (chỉ tiêu lượng, chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu hiệu quả); Lê Nguyễn Diệu Anh (2020) đánh giá qua ba khía cạnh (quy mô, cơ cấu, chất lượng). Tác giả tổng hợp thành khung tiêu chí cơ bản:
| TT |
Tên chỉ tiêu đánh giá |
Nguồn công trình |
| 1 |
Số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường; Tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp |
Đinh Văn Tuyên (2014); Lê Nguyễn Diệu Anh (2020) |
| 2 |
Số lượng các nhóm hàng hóa, dịch vụ; Tốc độ tăng số lượng nhóm hàng hóa, dịch vụ |
Đinh Văn Tuyên (2014); Lê Nguyễn Diệu Anh (2020) |
| 3 |
Mức độ hài lòng trung bình của khách hàng sử dụng dịch vụ |
Đinh Văn Tuyên (2014) |
| 4 |
Tỉ lệ khách hàng phàn nàn về dịch vụ |
Đinh Văn Tuyên (2014) |
| 5 |
Tốc độ giải quyết các yêu cầu của khách hàng |
Đinh Văn Tuyên (2014) |
| 6 |
Cơ cấu hàng hóa/dịch vụ |
Lê Nguyễn Diệu Anh (2020) |
Nhóm nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thị trường điện
Marcin Pinczynski và Rafał Kasperowicz (2016) nhấn mạnh chức năng giám sát thị trường điện về thông số kinh tế, sức mạnh thị trường và hành vi. Carlo và cộng sự (2015, 2020) nghiên cứu thị trường bán lẻ điện Ý dựa trên chỉ số Acer/Arci của tư vấn IPA và mô hình Weiss (1979), đề xuất lộ trình chuyển đổi và bảo vệ người tiêu dùng. Mohammad Ali và cộng sự nghiên cứu quá trình tự do hóa thị trường bán lẻ điện Bồ Đào Nha giai đoạn 2008-2015. Tại Việt Nam, Nguyễn Thành Sơn phân tích vai trò quản lý nhà nước, chỉ ra bất cập tại các văn bản điều hành của Bộ Công Thương như Thông tư 56/2014/TT-BCT và Thông tư 30/2014/TT-BCT; Nguyễn Anh Tuấn đánh giá cơ chế quản lý nhà nước về giá điện và nguyên tắc định giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Từ việc tổng thuật, tác giả chỉ ra 4 giới hạn của các công trình trước và xác lập 2 khoảng trống trọng tâm:
- Thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Quản lý kinh tế về bản chất, cấu trúc, tiêu chí đo lường định tính - định lượng và vai trò quản lý nhà nước đối với một thị trường có tính chất kỹ thuật đặc thù như thị trường điện.
- Thiếu các công trình phân tích toàn diện thực trạng vận hành thị trường điện Việt Nam sau 11 năm (2012-2023), làm rõ nguyên nhân chậm lộ trình chuyển đổi sang thị trường bán lẻ, sự bất cập trong kiểm soát sức mạnh thị trường, cơ chế giá bù chéo và việc xử lý các nguồn điện gián tiếp (BOT, giá FIT năng lượng tái tạo).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm và đặc thù điện năng: Kế thừa lý thuyết thị trường của Paul Samuelson và David Begg, luận án xác định điện năng là hàng hóa đặc thù với 5 đặc tính chi phối việc thiết kế thị trường:
- Hầu như không thể lưu trữ ở quy mô thương mại lớn, đòi hỏi hệ thống duy trì cân bằng vật lý tức thời giữa phát và tiêu thụ để giữ ổn định tần số, điện áp.
- Vận hành bám sát biến động phụ tải theo từng chu kỳ ngắn (giờ, nửa giờ, ngày, mùa).
- Quá trình truyền tải và phân phối mang tính độc quyền tự nhiên do tính kinh tế về quy mô của hệ thống lưới.
- Là hạ tầng xương sống gắn với an ninh năng lượng và an ninh quốc gia.
- Độ co giãn của cầu theo giá trong ngắn hạn rất thấp.
- Định nghĩa của tác giả: "Thị trường điện cạnh tranh là hệ thống cung ứng điện năng và nhu cầu sử dụng điện gặp nhau, được xác định bằng giá bán điện trên thị trường nhằm thỏa mãn các lợi ích kinh tế của người mua và người bán". Bản chất của phát triển thị trường điện cạnh tranh theo quan điểm duy vật biện chứng là quá trình biến đổi về lượng và chất từ độc quyền tích hợp dọc sang các cấp độ cạnh tranh cao hơn.
- Bốn cấp độ phát triển thị trường điện: Cấp độ 1 (Độc quyền liên kết dọc); Cấp độ 2 (Cạnh tranh phát điện - thị trường một người mua duy nhất); Cấp độ 3 (Cạnh tranh bán buôn - nhiều người bán và nhiều người mua); Cấp độ 4 (Cạnh tranh bán lẻ - người tiêu dùng cuối cùng tự do chọn nhà cung cấp).
- Cấu trúc thị trường: Gồm hai bộ phận chính là thị trường bán buôn cạnh tranh (WEM) và thị trường bán lẻ cạnh tranh (REM), hoạt động song song với thị trường giao ngay, thị trường hợp đồng song phương (PPA/CfD) và dịch vụ phụ trợ hệ thống.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
[Khung phương pháp nghiên cứu của luận án]
- Phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn sâu 8 chuyên gia từ tháng 1/2023 đến tháng 10/2023 (nhà quản lý công ty điện lực, lãnh đạo nhà máy điện, chuyên gia Viện Khoa học Năng lượng, giảng viên đại học) nhằm nhận diện thành tựu và rào cản chính sách.
- Khảo sát điều tra thực nghiệm: Khảo sát 3 nhóm chủ thể từ tháng 1/2023 đến tháng 10/2023 qua công cụ Google Form, đánh giá theo 3 nhóm chỉ số: mức độ quan trọng, mức độ thực hiện và mức độ hài lòng. Kết quả mẫu thu thập được tổng hợp tại bảng sau:
| TT |
Đối tượng khảo sát |
Số phiếu gửi đi |
Số phiếu thu về |
Tỷ lệ phản hồi |
| 1 |
Nhà máy điện |
500 |
333 |
67% |
| 2 |
Tổng công ty điện lực |
100 |
92 |
92% |
| 3 |
Khách hàng sử dụng điện |
400 |
347 |
87% |
| Tổng |
Toàn bộ đối tượng khảo sát |
1.000 |
772 |
77% |
- Công cụ phân tích: Sử dụng phần mềm SPSS để tính toán giá trị trung bình phản hồi của các nhóm khách thể khảo sát.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực (ERAV), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (EVNNLDC - A0), Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo quy hoạch phát triển điện lực (Quy hoạch điện VII điều chỉnh, Quy hoạch điện VIII).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường điện, xác định điện năng là loại hàng hóa có sự ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý, không thể tồn kho thương mại và mạng lưới lưới điện mang tính độc quyền tự nhiên. Tác giả phân tích tiến trình dịch chuyển mô hình tổ chức ngành điện qua 4 cấp độ: từ mô hình độc quyền tích hợp dọc truyền thống chuyển sang mô hình một người mua duy nhất (Cost-Based Pool), mô hình bán buôn cạnh tranh (nhiều người bán, nhiều người mua) và mô hình bán lẻ cạnh tranh hoàn chỉnh có sự tham gia của các công ty bán lẻ điện (SC) độc lập không sở hữu lưới.
Nội dung phát triển thị trường điện cạnh tranh được xác định gồm ba trụ cột:
- Phát triển nguồn cung điện năng thích ứng kịp thời với biến động của nhu cầu, đa dạng hóa cơ cấu nguồn và tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo.
- Hoàn thiện hệ thống các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng (phát điện, truyền tải, phân phối, bán lẻ, cơ quan vận hành hệ thống và thị trường, cơ quan điều tiết), đảm bảo quyền tiếp cận bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với hệ thống truyền tải.
- Từng bước xóa bỏ kiểm soát giá mang tính áp đặt, chuyển sang cơ chế định giá biên hệ thống (SMP) phản ánh chi phí biên ngắn hạn và hình thành biểu giá bán lẻ theo tín hiệu thị trường.
Về kinh nghiệm quốc tế, chương này nghiên cứu mô hình thị trường điện của một số quốc gia:
- Singapore: Vận hành Thị trường điện quốc gia Singapore (NEMS), cơ quan điều tiết năng lượng (EMA), đơn vị cung cấp dịch vụ thị trường (MSSL), tách bạch hoàn toàn chức năng phân phối và mở rộng thị trường điện mở (OEM) cho khách hàng bán lẻ.
- Hàn Quốc: Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc (KEPCO) nắm giữ phân phối trong khi các công ty con cạnh tranh phát điện qua Sàn giao dịch điện lực Hàn Quốc (KPX) dưới sự điều tiết của KOREC.
- Trung Quốc: Quá trình cải cách tách rời khâu phát điện khỏi lưới điện thuộc Tổng công ty Điện lực Nhà nước (SPC) và cơ chế giao dịch theo vùng.
- Từ đó, tác giả rút ra 5 bài học cho Việt Nam: xây dựng lộ trình chuyển đổi minh bạch; bảo đảm tính độc lập của đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện; tách bạch độc quyền tự nhiên khỏi các khâu có thể cạnh tranh; hoàn thiện khung pháp lý về giám sát thị trường; và cải cách cơ chế trợ cấp, bù chéo giá điện.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM
Chương 2 phân tích thực trạng phát triển thị trường điện Việt Nam từ mốc khởi điểm ngày 01/7/2012 đến năm 2023. Tác giả phản ánh bước tiến về quy mô vận hành: thời điểm ban đầu chỉ có 31 nhà máy điện trực tiếp tham gia chào giá với công suất đặt 9.200 MW; sau 11 năm, số lượng nhà máy tham gia trực tiếp tăng xấp xỉ 3,5 lần lên 108 nhà máy, tổng công suất đặt tham gia thị trường tăng 3,35 lần đạt 30.940 MW (tăng bình quân 13,12%/năm). Thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) chính thức vận hành từ năm 2019 đã đưa 5 tổng công ty điện lực trực tiếp mua điện từ thị trường giao ngay và ký kết hợp đồng sai khác (CfD).
Tuy nhiên, chương 2 chỉ ra những hạn chế và điểm nghẽn nghiêm trọng:
- Cơ cấu nguồn tham gia thị trường bị phân mảnh: Tỷ lệ công suất trực tiếp chào giá trên thị trường giao ngay còn hạn chế. Một tỷ trọng lớn nguồn điện không tham gia chào giá trực tiếp, gồm các nhà máy nhiệt điện BOT (vận hành theo hợp đồng bao tiêu dài hạn cố định), các nguồn thủy điện chiến lược đa mục tiêu (SMHP) và nguồn điện năng lượng tái tạo phát triển nhanh qua cơ chế giá FIT cố định nhưng chưa tích hợp trực tiếp vào cơ chế chào giá của thị trường.
- Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh chậm tiến độ: Theo Quyết định 63/2013/QĐ-TTg, thị trường bán lẻ điện (VREM) dự kiến thí điểm và vận hành hoàn chỉnh trong giai đoạn 2021-2023, song trên thực tế người tiêu dùng cuối cùng vẫn chưa được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện; 5 tổng công ty điện lực vẫn thực hiện đồng thời cả hai chức năng quản lý lưới phân phối và kinh doanh bán lẻ điện.
- Cơ chế hình thành giá bán lẻ còn méo mó: Giá bán lẻ điện vẫn do Nhà nước định mức thông qua khung giá của Thủ tướng Chính phủ và các quyết định điều chỉnh của Bộ Công Thương, tồn tại tình trạng bù chéo giữa các nhóm khách hàng (khách hàng công nghiệp hưởng giá thấp hơn chi phí thực tế trong khi nhóm dịch vụ và một bộ phận sinh hoạt bù đắp) và bù chéo giữa các vùng miền.
- Hạn chế trong quản lý nhà nước và cấu trúc ngành: Cục Điều tiết Điện lực (ERAV) chịu áp lực quản lý lớn nhưng thẩm quyền độc lập còn hạn chế. Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện (Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia - A0) trong suốt giai đoạn nghiên cứu vẫn là đơn vị hạch toán phụ thuộc trực thuộc EVN, dẫn đến sự thiếu độc lập khách quan giữa khâu vận hành thị trường và đơn vị sở hữu nhiều tài sản phát điện lớn nhất hệ thống.
- Kết quả khảo sát thực nghiệm 772 đối tượng (nhà máy điện, tổng công ty điện lực, khách hàng) chỉ ra điểm đánh giá về mức độ quan trọng của các tiêu chí thị trường đều ở mức cao, song mức độ thực hiện và mức độ hài lòng về tính minh bạch, cơ chế thanh toán thị trường và tính công bằng trong huy động nguồn còn đạt điểm số khiêm tốn.
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Chương 3 xây dựng các dự báo về tăng trưởng kinh tế, nhu cầu tiêu thụ điện năng dựa trên Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII), khẳng định tốc độ tăng trưởng phụ tải duy trì ở mức cao đòi hỏi huy động nguồn vốn lớn ngoài ngân sách nhà nước.
Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý nhà nước trọng tâm cho giai đoạn 2024-2030:
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển thị trường: Sửa đổi Luật Điện lực, sửa đổi các thông tư về vận hành thị trường bán buôn và cơ chế hợp đồng mua bán điện; ban hành khung pháp lý hoàn chỉnh cho Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn; chuẩn hóa quy chế thị trường giao ngay và thị trường dịch vụ phụ trợ.
- Hoàn thiện mô hình tổ chức thị trường điện và tái cơ cấu ngành: Thực hiện tái cơ cấu các đơn vị phát điện trực thuộc EVN để giảm mức độ tập trung thị trường; tách bạch độc lập chức năng quản lý vận hành hệ thống truyền tải của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT); hoàn tất việc chuyển giao A0 từ EVN về Bộ Công Thương nhằm bảo đảm nguyên tắc đơn vị vận hành hệ thống và thị trường hoạt động độc lập (ISO/SMO); từng bước tách bạch hạch toán khâu phân phối điện (sở hữu lưới) và khâu kinh doanh bán lẻ điện tại 5 tổng công ty điện lực.
- Cải cách cơ chế giá điện: Từng bước xóa bỏ hoàn toàn việc bù chéo giá điện giữa các nhóm đối tượng và giữa các vùng miền; tách biệt các chính sách an sinh xã hội ra khỏi biểu giá điện thương mại để xử lý qua ngân sách nhà nước; chuyển đổi cơ chế tính giá theo chi phí biên ngắn hạn và áp dụng biểu giá bán lẻ linh hoạt phản ánh kịp thời biến động giá nhiên liệu đầu vào.
- Đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ phục vụ thị trường: Nâng cấp hệ thống giám sát điều khiển và thu thập dữ liệu (SCADA/EMS), hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý thị trường điện (MMS), đầu tư hạ tầng đo đếm điện năng từ xa tại các điểm giao nhận ranh giới và chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật số cho khâu bán lẻ điện cạnh tranh.
- Tăng cường quản lý, giám sát và kiểm soát sức mạnh thị trường: Nâng cao năng lực độc lập của cơ quan điều tiết (ERAV); kiểm soát hành vi chào giá lũng đoạn của các nhà máy điện có vị thế thị trường chi phối; thiết lập cơ chế giám sát các chỉ số biên nút (LMP) và công bố công khai dữ liệu thị trường theo thời gian thực.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Hệ thống hóa và làm rõ đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của điện năng tác động đến cấu trúc thị trường, phân định rõ ranh giới giữa khâu mang tính độc quyền tự nhiên (truyền tải, phân phối) và khâu có khả năng cạnh tranh (phát điện, bán lẻ).
- Bổ sung và cụ thể hóa khung tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của thị trường điện cạnh tranh bao gồm cả chỉ tiêu định lượng (số lượng nhà máy tham gia, tỷ lệ công suất chào giá trực tiếp, chỉ số tập trung thị trường) và chỉ tiêu định tính (mức độ hài lòng, mức độ thực hiện, tính minh bạch thông tin).
- Luận giải sâu sắc các nhân tố quản lý nhà nước tác động đến sự vận hành của thị trường điện từ góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế, vượt ra ngoài các phân tích kỹ thuật điện đơn thuần.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện, chi tiết bức tranh vận hành thị trường điện Việt Nam trong suốt giai đoạn 2012-2023 với hệ thống số liệu thực nghiệm: quy mô nhà máy tăng 3,5 lần (từ 31 lên 108 nhà máy), công suất tăng 3,35 lần (đạt 30.940 MW).
- Chỉ rõ những nút thắt thể chế khiến thị trường bán buôn chưa phát huy hết hiệu quả và thị trường bán lẻ bị chậm tiến độ theo Quyết định 63/2013/QĐ-TTg, bao gồm: rào cản từ hợp đồng PPA của các dự án BOT, sự xuất hiện ồ ạt của nguồn năng lượng tái tạo hưởng giá FIT ngoài thị trường, tính thiếu độc lập của đơn vị vận hành A0 và cơ chế định giá bán lẻ mang tính hành chính, bù chéo kéo dài.
- Xây dựng lộ trình và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý nhà nước đồng bộ giai đoạn 2024-2030, cung cấp căn cứ thực tiễn cho việc tái cấu trúc tổ chức ngành điện, thành lập đơn vị vận hành độc lập và triển khai cơ chế DPPA.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Về nội dung: Xuất phát từ chuyên ngành Quản lý kinh tế, luận án tập trung chủ yếu vào các công cụ quản lý nhà nước vĩ mô, cơ chế thị trường và mô hình tổ chức, không phân tích sâu các mô hình kỹ thuật tối ưu hóa dòng công suất, mô phỏng ổn định động lưới điện hoặc đánh giá chi tiết cơ cấu tài chính nội bộ của từng nhà máy điện.
- Về dữ liệu điều tra: Mẫu khảo sát người tiêu dùng điện (347 phiếu hợp lệ) được thu thập theo phương pháp thuận tiện và tập trung vào một số địa bàn, chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm hành vi của toàn bộ các phân khúc khách hàng điện sinh hoạt và nông thôn trên quy mô toàn quốc.
- Về bối cảnh chính sách: Dữ liệu thực trạng chốt đến năm 2023, thời điểm các văn bản lớn như Luật Điện lực sửa đổi và Đề án tái cơ cấu tách A0 thành công ty độc lập đang trong giai đoạn soạn thảo, chưa có kết quả vận hành thực tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu mô hình kiểm soát sức mạnh thị trường và định giá biên nút (LMP) khi thị trường bán buôn điện cạnh tranh tích hợp sâu rộng các nguồn năng lượng tái tạo phân tán (DER) và hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS).
- Nghiên cứu cơ chế vận hành chi tiết và tác động kinh tế - xã hội của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh khi triển khai đồng bộ cơ chế DPPA và biểu giá điện hai thành phần tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp): Luận án là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi Luật Điện lực, hoạch định lộ trình chuyển đổi thị trường bán buôn sang bán lẻ và thiết lập cơ chế giám sát thị trường độc lập.
- Đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các doanh nghiệp năng lượng: Cung cấp cơ sở khoa học để tái cơ cấu mô hình quản trị, chuẩn bị năng lực cạnh tranh trong khâu phát điện, đàm phán hợp đồng song phương và xây dựng chiến lược tách bạch hạch toán khâu phân phối với kinh doanh bán lẻ.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong giảng dạy và nghiên cứu các học phần Quản lý kinh tế, Kinh tế năng lượng, Chính sách công tại các trường đại học khối kinh tế và kỹ thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Thị trường điện cạnh tranh phát triển qua những cấp độ nào theo phân tích của luận án?
Theo cơ sở lý luận của luận án, thị trường điện phát triển tuần tự qua 4 cấp độ:
- Cấp độ 1: Độc quyền liên kết dọc (một doanh nghiệp kiểm soát toàn bộ phát điện, truyền tải, phân phối và bán lẻ).
- Cấp độ 2: Cạnh tranh phát điện (mô hình một người mua duy nhất - Single Buyer, mở cửa cho các nhà máy điện độc lập tham gia chào giá theo chi phí).
- Cấp độ 3: Cạnh tranh bán buôn (nhiều người bán và nhiều người mua, các công ty phân phối điện được mua điện trực tiếp từ thị trường giao ngay và qua hợp đồng song phương).
- Cấp độ 4: Cạnh tranh bán lẻ (cấp độ cao nhất, người tiêu dùng cuối cùng được quyền tự do lựa chọn và thay đổi đơn vị cung cấp điện bán lẻ).
2. Mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án được tổ chức với quy mô ra sao và xử lý bằng công cụ nào?
Luận án tiến hành điều tra khảo sát từ tháng 1/2023 đến tháng 10/2023 qua công cụ Google Form với tổng số 1.000 phiếu gửi đi, thu về 772 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 77%). Mẫu khảo sát phân bổ thành 3 nhóm: 333 phiếu từ các nhà máy điện (tỷ lệ 67%), 92 phiếu từ 10 tổng công ty/công ty điện lực (tỷ lệ 92%) và 347 phiếu từ khách hàng sử dụng điện (tỷ lệ 87%). Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS để tính toán điểm số trung bình phản hồi theo thang đo mức độ quan trọng, mức độ thực hiện và mức độ hài lòng.
3. Quy mô thị trường điện Việt Nam thay đổi như thế nào sau 11 năm vận hành (2012-2023)?
Tại thời điểm chính thức vận hành thị trường phát điện cạnh tranh ngày 01/7/2012, toàn hệ thống mới có 31 nhà máy điện trực tiếp tham gia chào giá với tổng công suất đặt khoảng 9.200 MW. Sau 11 năm vận hành (tính đến năm 2023), số lượng nhà máy tham gia trực tiếp tăng xấp xỉ 3,5 lần lên 108 nhà máy, tổng công suất đặt tăng khoảng 3,35 lần đạt mức 30.940 MW, ghi nhận tốc độ tăng trưởng quy mô công suất bình quân đạt 13,12%/năm.
4. Những điểm hạn chế lớn nhất của thị trường điện Việt Nam giai đoạn 2012-2023 được luận án chỉ ra là gì?
Luận án nhận diện các hạn chế cơ bản:
- Tiến độ triển khai thị trường bán lẻ điện cạnh tranh bị chậm so với lộ trình tại Quyết định 63/2013/QĐ-TTg;
- Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện (A0) trực thuộc EVN trong thời gian dài, chưa độc lập về pháp lý và tổ chức với đơn vị sở hữu nguồn điện;
- Tỷ trọng nguồn điện tham gia thị trường giao ngay bị hạn chế do vướng mắc cơ chế hợp đồng PPA dài hạn của các dự án BOT và cơ chế giá FIT cố định của các dự án năng lượng tái tạo;
- Giá bán lẻ điện chưa vận hành theo nguyên tắc thị trường, còn tồn tại cơ chế bù chéo sâu sắc giữa các nhóm khách hàng và giữa các vùng miền.
5. Luận án đề xuất giải pháp cốt lõi nào về mô hình tổ chức và cơ chế giá cho giai đoạn 2024-2030?
Luận án đề xuất: hoàn tất chuyển đổi Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) thành doanh nghiệp độc lập trực thuộc Bộ Công Thương; tách bạch chức năng quản lý lưới điện phân phối khỏi kinh doanh bán lẻ điện tại 5 tổng công ty điện lực; triển khai cơ chế DPPA cho năng lượng tái tạo; xóa bỏ bù chéo giá điện và tách các khoản trợ giá xã hội ra khỏi biểu giá thương mại để chi trả độc lập qua ngân sách nhà nước.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đinh Xuân Bách là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ Quản lý kinh tế về quá trình phát triển thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp tổng quan tài liệu, phỏng vấn chuyên gia và khảo sát thực nghiệm 772 mẫu, tác giả đã đánh giá khách quan các thành tựu tăng trưởng công suất qua 11 năm vận hành (2012-2023), đồng thời chỉ rõ những rào cản thể chế về tính độc lập của đơn vị vận hành, sự phân mảnh cơ cấu nguồn và cơ chế bù chéo giá điện. Các quan điểm định hướng và 5 nhóm giải pháp quản lý nhà nước đề xuất cho giai đoạn 2024-2030 cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý và các doanh nghiệp trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế ngành năng lượng.