Chương 1: Xăng dầu và các mô hình quản lý giá xăng dầu. Chương 2: Thực trạng quản lý giá xăng dầu xăng dầu tại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp quản lý giá xăng dầu nhằm góp phần bình ổn thị trường xăng dầu trong nước. 123doc 3 CHƯƠNG CH NG I XĂNG DẦU VÀ CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ GIÁ 1.
Xăng dầu và vai trò của xăng dầu trong nền kinh tế 1. Tổng quan về xăng dầu 1 1. Dầu mỏ Năm 1859, dòng chất lỏng màu đen lần đầu tiên được khai thác ở Hoa Kỳ, từ loại chất lỏng kỳ diệu này, người ta đã điều chế ra hàng loạt các sản phẩm phục vụ cho mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt trong ngành công nghiệp năng lượng. Kể từ lúc đó, nhân loại biết rằng đây sẽ là loại tài nguyên ảnh hưởng sâu rộng đến toàn thế giới.
Nó được gọi là dầu mỏ. Xăng dầu và các sản phẩm chế biến từ dầu mỏ Xăng dầu là một trong những sản phẩm được chế biến từ dầu mỏ. Từ khi được phát hiện tới nay, xăng dầu vẫn giữ vị trí độc tôn trong các nguồn năng lượng trên thế giới. Ngày nay, gần như toàn bộ các loại phương tiện giao thông vận tải, máy móc công nghiệp đều sử dụng nhiên liệu xăng dầu.
Hiện nay, có rất nhiều loại năng lượng khác nhau đã được ứng dụng như điện, gió, hạt nhân, … nhưng vẫn chưa có loại nào đủ khả năng thay thế cho xăng dầu. Trên thị trường hiện nay có nhiều loại xăng như A83, A92, A95, A97, A98 được phân loại dựa trên chỉ số octan (02 số cuối trong tên của từng loại xăng ám chỉ tỷ lệ octan trong loại xăng đó), chỉ số octan càng cao thì chất lượng xăng càng tốt. Mỗi loại động cơ thích hợp với 01 hoặc một số loại xăng nhất định. Xăng được dung để chạy các loại động cơ đốt trong như ôtô, máy bay (TC1, ZA1, …), máy phát điện, xe máy, … Bên cạnh xăng, dầu cũng có nhiều loại như dầu DO (diezen), dầu KO (dầu hỏa) và FO (dầu mazut hay dầu cặn).
Dầu DO dùng chạy các loại động cơ có công suất lớn, tốc độ chậm, các loại máy móc công nghiệp. Dầu KO có độ nhớt ít hơn dầu DO, cháy sáng và tỏa nhiệt hơn, được dùng làm chất đốt, làm dung môi cho các ngành công nghiệp. Dầu FO màu đen, quánh, độ nhớt cao, dùng làm nhiên liệu cho các loại động 1 Bồi dưỡng nâng bậc kỹ thuật xăng dầu (2006), Bộ Thương Mại 123doc 4 cơ công suất lớn, các loại lò công nghiệp (đơn vị đo lường được tính theo kg, tấn thay vì lít như các loại dầu khác). Ngoài ra còn có các loại sản phẩm khác từ dầu mỏ như dầu nhờn (dùng bôi trơn, làm sạch, chống ăn mòn kim loại, … không dùng làm nhiên liệu), khí đốt – một dạng nhiên liệu ở thể khí – dùng rộng rãi trong các hộ gia đình để nấu ăn, sưởi ấm, hàn cắt, nhiên liệu ôtô, … đặc biệt là dùng trong sản xuất MTBE – một hợp chất làm tăng chỉ số octan xăng, thay thế cho chì.
Từ dầu mỏ, nhiều sản phẩm khác được sản xuất phục vụ đời sống mà ít ai ngờ đến, điển hình là phân bón và mỹ phẩm. Hiện nay, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam sở hữu 01 Công ty thành viên chuyên sản xuất phân bón cung cấp cho ngành nông nghiệp Việt Nam từ nguồn nguyên liệu dầu mỏ, thương hiệu này đã trở nên phổ biến và được tin dùng rộng rãi trong bà con nông dân (Đạm Phú Mỹ). Sự hình thành và phát triển của thị trường xăng dầu 2 Thị trường xăng dầu được hình thành khi các sản phẩm từ dầu mỏ được giao dịch mua bán. Đó là nơi mà các sản phẩm lọc hóa dầu được mua bán, chuyển nhượng.
Từ những hành vi mua bán thông thường, cùng với sự phát triển mạnh mẽ các ứng dụng của xăng dầu, thị trường xăng dầu ngày càng đạt đến những bước phát triển như vũ bão. Trên cả thị trường tập trung và phi tập trung, giao dịch các sản phẩm xăng dầu luôn sôi nổi và giá trị giao dịch luôn vô cùng lớn. Với lượng tiền giao dịch hàng năm lên tới hàng ngàn tỷ dollars Mỹ, thị trường xăng dầu thế giới đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Nó không chỉ mang lại nguồn thu ngân sách khổng lồ cho các quốc gia mà còn là mặt hàng chiến lược trong các chính sách quản lý kinh tế của nhà nước.
Chính vì vậy, bản thân thị trường xăng dầu luôn bất ổn định. Một biến động trong giá dầu có thể gây ra những tác động khó lường đối với nền kinh tế. Sự ảnh hưởng sâu rộng của xăng dầu đến mọi mặt của nền kinh tế xã hội đã hình thành nên các công cụ giúp phòng ngừa các rủi ro do thị trường này đem lại. Các công cụ phái sinh ngày càng đem lại hiệu quả to lớn và chính các công cụ này lại hình thành nên những thị trường xăng dầu theo kiểu mới: thị trường giao sau xăng dầu, thị trường kỳ hạn xăng dầu, … 1.
Vai trò của xăng dầu trong nền kinh tế và xã hội 2: 2 Phát triển thị trường xăng dầu Việt Nam đến năm 2020 – TS. Trần Hiệp Thương 123doc 5 Tất cả các ngành trong nền kinh tế đều có liên quan đến xăng dầu. Từ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt dân cư, … đều cần đến nhiên liệu xăng dầu và các chế phẩm khác từ dầu mỏ. Xăng dầu cung cấp năng lượng cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dân sinh, an ninh quốc phòng; là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia Các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu tiêu thụ xăng dầu rất lớn, lượng tiêu thụ bình quân đầu người cao thuộc các nước có nền kinh tế phát triển.
Nguyên nhân do kinh tế càng phát triển, các lĩnh vực sản xuất, vận tải, công nghiệp… càng cần tiêu thụ nhiều. Hơn nữa, mức sống của của người dân cao làm tăng nhu cầu sử dụng các trang thiết bị hiện đại sử dụng năng lượng hoặc các phương tiện giao thông cho hoạt động đi lại, du lịch… Có thể nói xăng dầu như máu huyết của nền kinh tế. Khi sự lưu thông máu huyết này bị ách tắc hoặc thay đổi bất thường thì chắc chắn các bộ phận khác của nền kinh tế từ đó mà bất ổn định theo. Một quốc gia đảm bảo được an ninh xăng dầu sẽ là một quốc gia có sức mạnh kinh tế.
Ngoài ý nghĩa kinh tế, xăng dầu nói riêng và dầu mỏ nói chung còn mang một ý nghĩa chiến lược quốc phòng to lớn. Những xung đột ở khu vực Trung Đông hay những tranh chấp ở Biển Đông hiện nay giữa các quốc gia đều có nguồn gốc sâu xa là dầu mỏ. Đất nước có nguồn dầu mỏ và công nghiệp lọc hóa dầu phát triển sẽ có vị thế quốc phòng vững mạnh.2 Quản lý nhà nước về giá 3 1. Sự cần thiết của chính sách quản lý giá Mọi nhà nước chấp nhận cơ chế thị trường và muốn phát triển nền kinh tế nước mình vận động theo cơ chế thị trường đều phải thực hiện sự điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.
Điều tiết giá cả của nhà nước là một trong những khâu chính trong hoạt động điều tiết kinh tế vĩ mô tổng thể của nhà nước vì giá cả là phạm trù tổng hợp có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của hầu hết các tham số kinh tế vĩ mô. Xăng dầu không nằm ngoài quy luật này. Ngày nay, sự điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước theo cơ chế thị trường là một tất yếu khách quan nhằm hạn chế bớt những tác động tiêu cực và khơi dậy những tiềm năng, phát huy thế mạnh sẵn có của thị trường, sự điều tiết giá cả do đó cũng không thể thiếu được. Điều tiết giá cả là một trong những công cụ có tính 3 Lưu Húc Minh - Mậu Đại Văn - Quản lý giá cả trong nền kinh tế thị trường - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 123doc 6 quyết định đảm bảo sự thành công của các hoạt động điều tiết khác và của hoạt động điều tiết kinh tế vĩ mô nói chung của nhà nước.
Cơ chế giá hiện nay đang chuyển dần sang cơ chế thị trường, điều tiết giá cả của nhà nước là hoạt động không thể thiếu được nhằm khắc phục khuyết tật của thị trường và góp phần khai thác tốt nguồn lực quốc gia. Đây cũng là một trong những lý do khách quan đòi hỏi nhà nước thực hiện sự điều tiết giá cả. Trong điều kiện ngày nay, chế độ định giá tự do mặc dù còn có vai trò tích cực, thậm chí là quyết định nhưng nó cũng dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực. Tình trạng dùng các thủ đoạn trong định giá, độc quyền là những hiện tượng đã gây không ít thiệt hại cho các nền kinh tế.
Thực tiễn ở các nước kinh tế thị trường cho thấy, nếu để cho thị trường tự do quá nhiều quyền định đoạt giá thì có nguy cơ dẫn đến suy thoái và khủng hoảng. Những khuyết tật của thị trường tự do, các cuộc suy thoái đã làm lung lay nền tảng của nhà nước, buộc nhà nước phải tìm cách đối phó bằng con đường kinh tế. Đó là giá cả. Nhà nước không chỉ tìm cách khắc phục những khuyết tật của chế độ định giá tự do mà còn cần tác dụng vào giá cả nhằm khai thác hết những tiềm năng của nền kinh tế.
Hơn nữa, hội nhập kinh tế đang trở thành một xu hướng lớn và tất yếu khách quan. Chính vì vậy, chính sách kinh tế của mỗi nước phụ thuộc lớn vào các hoạt động đối ngoại, chính sách kinh tế của các nước khác. Trong điều kiện đó, nếu nhà nước không thực hiện điều tiết giá cả thì sẽ ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại của nhà nước. Mặt khác, nhà nước sẽ bị thua thiệt trong quan hệ kinh tế đối ngoại và thị trường hoạt động tự phát của nước này không thể cạnh tranh với thị trường có sự điều tiết của nhà nước khác.
Nếu nhà nước không có chính sách trợ giá đối với các công ty còn yếu trong cạnh tranh với công ty nước ngoài hoặc không có hệ thống hàng rào thuế quan (tác động nên sự hình thành giá) thì các doanh nghiệp trong nước không thể tồn tại được. Do đó chỉ xét trên quan hệ kinh tế đối ngoại và chính sách đối ngoại nói chung đã thấy sự cần thiết phải điều tiết giá của nhà nước.