CHƯƠNG 1 : TONG QUAN VE CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN VÀ CHE ĐỘ VAN HANH HO CHUA 1. Tổng quan về thay điện LL. Tổng quan về thấy điện Việt Nam Vi tí nước ta nằm ở trang tâm vũng Đông Nam A, cỏ nguồn ấm tương đối phong phi trên phần lớn lãnh thổ. Hệ quả của sự tác động tổng hợp giữa các điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều và cấu trúc dia chất địa hình nên dòng chảy sông ngòi Việt [Nam được hình thành rất thuận lợi là nguyên nhân khách quan cơ bản nhất tạo nên một mang lưới sông suối dày đặc trên lãnh thé nước ta.
Mật độ sông suối có sự đao động. khá lớn giữa các vùng. tương đổi phù hợp với sự phân hỏa không gian của điều kiện khí hiệu và ấu trúc địa chất địa hình. Lượng mưa thay đổi giữa các năm không lớn nhưng giữa các tháng và mùa trong năm lại khá lớn.
Vào mùa lũ, dong chảy chiếm 70- 80% tông lượng đồng chảy cả năm và vì vậy lượng đồng chảy ở các tháng mùa khô chỉ chiếm 20-30%, Lãnh thé nước ta hẹp và dai, có dãy núi Trường Sơn hiu như chạy đọc sửất chi đài đất nước và các đầy núi cao như Hoàng Liên Sơn, Tây Côn Lĩnh.ạo nên độ đốc khá lớn cho các sông suối, nhất là những đoạn đầu nguồn. Đây chín là thể năng quan trọng cổ thể tận dung để xây dựng các nhà máy thủy điện, trong đó cổ thể xây dụng được nhiều trạm thủy điện nhỏ có cột nước cao. "Nhờ có mạng lưới sông suối phát triển và phân bố tương đối đều khắp trên lãnh thé nên rất thuận lợi về mặt kinh ế, đó là có thé dùng nguồn nước ti chỗ vio mục dich cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, hoạt động giao thông và phát điện. Với đặc điểm.
địa hình và nguồn nước như vậy, kết quả quy hoạch tiểm năng thủy điện Việt Nam trên 11 hệ thống sông lớn có tổng công suất đạt 15.390 MW và điện lượng trung bình hàng năm là 64.347 triệu KWh, rong dé đã xây dựng và đưa vio vận hình 3. với diện lượng trùng bình năm đạt 18.409 triệu KWh và một loạt các nhà may thủy điện dang được xây với ting công s là 2. ‘Theo thông tin trong hội thảo công bổ kết quả nghiên cứu Kế hoạch phát triển nang lượng quốc gia Việt Nam do các nhà khoa học thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành trong 2 năm 2008 -2009, đến năm 2050 số tram thuỷ điện cỏ công suất trên SOMW được xây dựng và đưa vào vận hành khá lớn (10 công trình đã có tính đến 2005 và 4§ công trình đã dang và sẽ xây dựng tinh đến năm 2025 có tông sông suất theo quy hoạch là 21.300MW) “Tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thủy điện ở nước ta cho thay tong trừ năng kinh. ế thủy điện của các con sông được đánh giá khoảng tir 75 - 80 ty KWh/năm.
Nghiên cứu đánh giá tiềm năng thuỷ điện nhỏ, thuỷ điện kết hợp thuỷ lợi ở nước ta cho thấy tổng trữ năng kinh tế của các sông nhánh, suối khoảng 30 tỷ kWh/năm (so với nhu cầu. ding điện năm 2011 là 108 tỷ kWh), Đây là nguồn năng lượng tái tạo tắt quan trọng, rẻ và để khai thác (so với các nguồn năng lượng tái tạo khác như gió, mặt trời, địa nhiệt .) cần tận dụng triệt để nhằm đáp ứng nhu cầu diện ngày cảng tăng (dự báo, năm 2020 nhu cầu điện sẽ tăng gap 3 so với năm 2010, năm 2030 tăng gap 7 lần so với năm 2010) của các ngành kinh tế quốc dân. Theo các quy hoạch đã được phê du) tử nay tới nim 2020 sẽ có gin 900 TTD vừa và nhỏ với tổng công suất lấp máy khoảng 6.600MW được xây dựng và đi vào vận hành. “Theo đảnh giá củ tổ chức Ngân hàng th giới (World Bank), Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nÈ nhất bởi sự biển đổi khí hậu và hiện tượng nước.
Những thay đổi về các yếu tổ khí hậu đang tác động tiêu cực tới i nguyên nước, gia tăng các dòng chảy kiệt cùng các đợt lũ hàng năm. Với sự biển đổi khắc nghiệt của thời it, các dự bảo đã chỉ ra rằng, tại khu vực vùng núi Tẩy Bắc và Đông Bắc dong chấy trên các sông, nhất là dòng chảy kiệt có thé giám đi mặc đà vẫn gia tăng đồng chảy lũ trong một số năm nhất định, gây nhiễu khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất. Sự chặn phá rừng, khai thác rừng bừa bãi, nhất là đối với rừng nguyên sinh, rừng nhiều. ting, rừng phòng hộ đầu nguồn làm thay đổi mặt đệm.
Điều này làm giảm khả năng giữ nước, điều tiết nước của lưu vực sông dẫn đến chế độ dòng chảy trên các sông bị ảnh hưởng, Vào mùa mưa, lưu lượng nước sông lên nhanh gây ra lũ nguy hiểm cho hạ du, Mùa khô, lượng mưa ít hoặc không mưa dòng chảy bị cạn kiệt. Ngoài ra, việc khai thác, sử dụng nguồn nước ngầm quá mức, đáy sông bị hạ thắp. cũng li nguyên nhân. làm nguồn nước bi suy giảm nhanh.
Sự cạn Kit của dong chảy có ảnh hưởng rt lớn đến chế độ vận hành của các TTD, thậm trí có th làm cho TTD phải ngừng làm việc ong một thời gian đài gay ra những thiệt hại lớn, nhất là những TTD không có khả năng điều. ‘Trong khi đó nhu cầu dùng điện lại tương đối lớn vào mùa khô và sự chênh lệch phụ tải lớn giữa các giờ trong ngày đã gây lên sự căng thẳng trong cân bằng điện năng, nhấ là cân bằng công suất i vio mia khô, đc biệt là ở những giờ cao điểm. Đ giảm căng thing cho hệ thống điện (HTĐ) và an toàn trong cung cấp điện, Bộ công thương và Tổng công ty điện lực Việt Nam đã 6 những chính sách, cơ chỉ gii điện nhằm khuyến khích các TTD nâng cao khả năng phát vào mùa khô va giờ cao điểm, điều này có thể thực hiện được khi các TTD có khả năng điều tiết ít nhất là điều tiết ngày đêm, “Theo đó, sự ra đời của Biểu giá chỉ phí tránh được áp dụng cho các TTD nhỏ (công xuất lắp đặt nhỏ hơn 30MW) với wu đãi giá đặc biệt vào giờ cao điểm mùa khô (gấp. sắn 4 lần cung giờ khác) là một minh chứng điển hình.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 112/2008-NĐ-CP, ngày 20/10/2008, quy định về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tải nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, hủy lợi. Theo đó, việc khai thác, sử dụng tii nguyên và môi trường các hồ chứa phải bảo dim an toàn hồ chứa, dòng chảy tối thiểu, không ảnh hưởng đến các mục tiêu, nhiệm vụ của hồ chứa đã được các cơ quan có thắm quyỂn phê duyệt và dap ứng các yêu cầu về phòng, chồng suy thoái, cạn kiệt, 6 nhiễm nguồn nước và phòng, chẳng tác hại do nước gây ra trên lưu vục hỗ chứa và ha du hỗ chứa. Bộ Công thương đang tiền hành ra soát lại rit nhiều dự án thủy điện vừa và nhỏ (trên 300 dự án) để đánh tinh hiệu quả cũng như tác động của nó đến môi trường nhằm loại bỏ những dự án không thôn man những tiêu chuẫn,điề kiện đưa mà 1.1 Như câu đng điện ca nước ta hiện nay Trong thập kj vừa qua, nhủ cầu điện của Việt Nam tăng nhanh do sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số mãnh mẽ. Nhiễu nhà máy phát điện đã và dang xây dựng, tuy nhiên do điều kiện tự nhiên và in độ xây dựng còn chậm nên những năm gin đây chúng ta liên tục phải thiểu điện, đặc biệt là vào mùa khô khí các dự án thủy điện thiểu nước.
Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do giá điện thương phẩm hiện nay còn thấp, không khuyến khích được tư nhân đầu tư mạnh vào các dự án nhiệt điện mã tập trúng chủ yêu vào các dự ân thủy điện với chỉ phi vận hành thấp nên ngành điện nước ta hiện nay đang lệ thuộc rất lớn vào thủy điện. “Theo Trung tim Điều độ Hệ thông điện Quốc gia (AO), tinh đến hết thing 6/2015, ting sông suất đặt nguồn điện của hệ thống điện quốc gia đã lên tới 37. Báo cáo gin đây nhất tại hội nghị giao ban do Bộ Công Thương tổ chức sáng 3/9/2015, ng Ngô Sơn Hai Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Vi im cho biết, trong khi thủy điện huy động khó khăn thì nhu cầu sử dụng điện trong 8 tháng vữa qua đã tăng hơn so với dự báo. “Thống kê cho thấy, sản lượng điện tháng 8 năm 2015 ước dạt 14,3 tỷ kWh, tăng 11.3%, so với thắng 8 năm 2014, tính chung 8 thắng ước dat 105,1 ty KWh, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2014.
KẾ hoạch tăng trưởng điện cả năm 2015 của Bộ Công Thương chỉ tăng 10,24%, trong. Khí nhủ cầu sử dụng điện tăng hơn 11% đã gây áp lực cho EVN trong việc cân đối nguồn điện 1. Hệ thông điện của Việt Nam Hệ thống điện Việt Nam các nhà máy điện, các lưới điện, các hộ tiêu thụ được. liên kết với nhau thành một hệ thống dé thực hiện 4 quá tình sản xuất, truyền ti, phân phối và tiêu thụ điện năng trong lãnh thổ Việt Nam.
Cie nhà máy trong hệ thống có nhiệm vụ biển đổi năng lượng thiên nhiên thành điện năng được gọi là nhà máy điện. Năng lượng thiên nhiên dự trữ dưới nhiều dạng khác. nhau và có thể biển đổi thảnh điện năng. Từ các dạng năng lượng dự trữ này có thể cho phép ta xây dựng các loại nhà máy điện khác nhau: + Từ năng lượng của nhiên liệu hữu cơ có thé xây dựng nhà máy nhiệt điện.
+ Từ năng lượng của đồng nước cỏ thể xây dựng nhà may thủy diện + Từ năng lượng gió có th xây đụng nhà mày điện súc giỏ. + Từ năng lượng sóng biển có thể xây dựng nhà may điện thủy triều. + Từ năng lượng mat trời có thể xây dựng nhà máy điện mặt trời 4+ Tử nguồn nồng trong lòng đắt có thể xây dựng nhà máy điện địa nhiệt + Từ năng lượng hạt nhân có thể xây đựng nhà máy điện hạt nhân. Hiện nay ở nước la có 2 nguồn sin xuất điện năng chủ yếu đổ lã hủy điện vi nhiệt điện.
Nhiệt điện hiện nay chủ yếu là 3 nguồn: nhiệt điện than, nhiệt điện khí và nhiệt điện dẫu, Thôi gian gần diy một số dự án sử dụng các nguồn năng lượn tạo như gió và mặt trời được ứng dụng nhiều hơn, góp phần tạo thêm nguồn cung cắp điện năng, Tổng công suất lắp đặt nguồn điện tính đến ngày 31/12/2010 là 21.