CHƯƠNG 1: TINH HÌNH THE GIỚI VÀ LIEN BANG NGA DƯỚI THỜI TONG THONG V. Tình hình thế giới Sau khi hệ thông xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước ở Đông Au tan rã, một trật tự thế giới mới đang được hình thành. Ngày 31 tháng 12 năm 1991, Liên Xô - cường quốc hàng đầu trên thế giới trong hệ thống quốc tế hai cực đã sup dé. Su kién nay danh dau một bước ngoặt lớn trong lịch sử thế giới hiện đại.
Liên Xô sụp đồ đồng nghĩa với sự kết thúc của cuộc Chiến tranh lạnh kéo dai trong nhiều năm giữa hai siêu cường trên thé giới là Liên Xô và Mỹ - đại diện cho hai chế độ xã hội khác nhau, một bên là Tư bản chủ nghĩa và một bên là Xã hội chủ nghĩa. Thế gidi chuyén từ trật tự hai cực sang một trật tự mới chưa xác định với sự nổi trội của My. Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ có co hội thực hiện chính sách đơn phương của mình. Tuy nhiên, trong những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, thế giới được chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của những nền kinh tế mới.
Giờ đây, sức mạnh của Mỹ đang bị cạnh tranh bởi Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Án Độ và Trung Quốc. EU đang được xem như là một trung tâm quyền lực kinh tế, chính trị thế giới, với GDP x4p xi Mỹ. Các chỉ số khác như tỷ trọng thương mại toàn cầu hay thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU cũng vượt trội các trung tâm khác. Năm 2004, EU chiếm tỷ trọng 40,6% xuất khẩu và 45,2% dau tư trực tiếp nước ngoài [50, tr.
Trong những năm gan đây, Trung Quốc đang nổi lên như là một cường quốc mới. Mặc dù, hiện tại Trung Quốc chỉ chiếm 3,5% GDP và 4% thương mại thế giới, nhưng Trung Quốc đang có một tiềm năng sức mạnh không lồ. Các nhà nghiên cứu khăng định: “Nếu tính theo PPP thì Trung Quốc đã chiếm 10% GDP thé giới, đứng thứ hai sau Mỹ. Nếu với tốc độ tăng trưởng 6-9% thì Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản và Châu Âu trong việc góp phần vào tăng trưởng kinh tế thế giới ngay năm 2008” [26, tr.
Bên cạnh Trung Quốc, An Độ cũng đang có những bước phát triển nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực. Vai trò của Ấn Độ liên quan nhiều tới phát triển dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ thông tin và các dịch vụ hiện đại, tức là các nước đang phát triển [52, tr. Những trung tâm quyền lực này đang đe dọa tới vị trí đứng đầu của Mỹ trong nên kinh tế, chính tri thế giới, đồng thời cũng đang cạnh tranh với nhau dé củng cố vị thê của mình. Từ sự vươn lên mạnh mẽ của những nền kinh tế mới trên thế giới đã chứng minh cho một xu thế mới hiện nay là thế giới sẽ chuyên mạnh từ chạy đua về quân sự, tranh giành những khoảng trống quyền lực sang cạnh tranh về kinh tế chiếm lĩnh thị trường.
Vì sức mạnh kinh tế là nhân tố hàng đầu quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định vị thế của mỗi nước trên trường quốc tế, nên Liên bang Nga sẽ càng khó khăn hơn trong việc lay lai vị trí cường quốc của Liên Xô trước đây. Trong những thập niên gần đây, “toàn cầu hoá” đã trở thành một trong những thuật ngữ được nhắc đến nhiều nhất. Toàn cầu hoá được biết đến hiện nay với những đặc điểm nổi bật là sự lưu chuyển tự do các dòng hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động ngày càng tăng, là sự hình thành các mạng lưới sản xuất quốc tế với vai trò chỉ phối các công ty 10 xuyên quốc gia, là sự cạnh tranh giữa các quốc gia và các khu vực. Tham gia toàn cầu hoá các quốc gia có thể nhanh chóng hội nhập và tiếp cận thị trường thế giới, qua đó hình thành đồng bộ các thê chế kinh tế thị trường trên quy mô toàn cầu.
Ngoài ra, các quốc gia khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa còn có khả năng tiếp cận được những thành quả sáng tạo về khoa học công nghệ, về tô chức quản lý, về sản xuất và kinh doanh. Từ đó, thúc đây sự cải cách sâu rộng của nên kinh tế quốc gia và cả sự hợp tác khu vực dé các quốc gia có thé nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng đặt ra hàng loạt nguy cơ và thách thức đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Do yêu cầu của toàn cầu hoá là đòi hỏi các nước phải dỡ bỏ các luật lệ bao hé kinh tẾ, các hàng rào thuế quan va ph thuế quan, cũng như các rào cản khác về đầu tư, tài chính, kỹ thuật, thể ché.
nén những quốc gia này luôn luôn phải chịu sức ép nặng nề của các dòng hàng hoá, dịch vụ, công nghệ nhập khâu và những chan động khu vực và toàn cau, trong đó, nguy cơ lớn nhất là những chấn động về tài chính tiền tệ. Từ đó, toàn cầu hóa làm trầm trọng thêm sự bat công xã hội, đào sâu hỗ ngăn cách giàu nghéo trong từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Hòa bình, hợp tác, phát triển được xem là xu hướng chính trong quan hệ quốc tế hiện nay. Một cuộc chiến tranh thế giới là khó xảy ra.
Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy dua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đồ, còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng và khó dự đoán diễn biến trên quy mô toàn cầu. Cục diện thế giới là bất ôn, phức tap, không thái bình, căng thăng, luôn xáo trộn với sự bùng nô của các cuộc chiến tranh, xung đột cục bộ dưới nhiều hình thức, cả về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống [51, tr. Đồng thời, thé giới cũng đang phải đối diện với những nguy cơ gây bất 6n như chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa phát xít mới, nạn buôn lậu vũ khí, các tổ chức mafia và tội phạm quốc tế đang ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu. Những nguy cơ này hiện đang trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với hoà bình và an ninh của toàn nhân loại.
Day là những đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế trong những năm cuối của thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Những thay đổi và biến động khó lường này của tình hình quốc tế đều có tác động đối với tất cả các quốc gia. Mỗi quốc gia phải có sự điều chỉnh trong chiến 11 lược đối ngoại của minh cho phù hợp với tình hình mới. Liên bang Nga cũng không nam ngoài xu thế đó.
Nước Nga dưới thời V.Putin cần phải nhanh chóng đề ra được một chính sách đối ngoại giúp đất nước có thể ổn định được tình hình chính trị, khôi phục nền kinh tế đang bị suy thoái nghiêm trong và đặc biệt là phải tìm được vi trí xứng đáng trong việc hình thành một trật tự thế giới mới. Tình hình trong nước Năm 2000, V.Elsin chọn làm người kế tục sự nghiệp, trở thành Tổng thống thứ hai của Liên bang Nga. Ngay từ khi mới nhậm chức, V.Putin đã phải đối diện với muôn vàn khó khăn và thách thức. * Về chính tri: Đặc điểm nổi bật của nền chính trị Nga trong thập niên 90 là sự mat ôn định và sự đôi dau tranh giành quyên lực giữa các thê lực.
Cuộc chính biến tháng 8 năm 1991 ở Liên Xô thất bại.Elsin thâu tom mọi quyền lực, day nhanh sự tan rã cua Liên Xô. Thang 12 năm 1991, Tổng thong ba nước Nga, Bêlarút, Ucraina ký Hiệp ước tại Bêlarút tuyên bố sự cáo chung của Liên Xô và sự ra đời của cộng đồng các quốc gia độc lập - SNG. Liên bang Nga trở thành người thừa kế Liên Xô cũ. Chính quyền Nga do B.Elsin làm Tổng thống chuyền nhanh sang nền kinh tế thị trường tự do, day manh viéc tu nhan hoa, tao dung chế độ dan chủ da nguyên, đa đảng, cộng hoà tổng thống, tập trung nhiều quyền lực cho tổng thống.Elsin cũng đề ra chính sách đối ngoại “định hướng Đại Tây Dương” với mục tiêu đưa nước Nga nhanh chóng hội nhập với phương Tây và phục hồi vị thế cường quốc của Liên bang Nga trên trường thế giới.
Cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực dién ra gay gắt trong chính quyền mới của nước Nga, mâu thuẫn giữa B.Elsin, đại điện cho cơ quan hành pháp mới và Chủ tịch Xô viết tối cao Khasbulatov, đại diện cho hệ thống cơ quan lập pháp cũ, đây đến cao điểm thành cuộc xung đột vũ trang đẫm máu tháng 10 năm 1993. Kết quả là hệ thống Xô viết cũ từ Trung ương đến địa phương bị xoá bỏ. Đối thủ chính trị của B.Elsin đã bị loại bỏ và quyền lực của B.Elsin được củng có. Ngày 12 tháng 12 năm 1993, B.Elsin tổ chức trưng cầu dân ý, thông qua Hiến pháp và bầu Quốc hội mới.
Nước Nga theo chế độ cộng hoà tổng thống với Quốc hội liên bang 12 gồm hai viện là Thượng viện (Hội đồng liên bang) và Hạ viện (Duma quốc gia). Với chế độ này, quyên lực tập trung chủ yếu trong tay Tổng thống. Tổng thống đã dàn xếp với các lực lượng chính trị ký kết thoả ước cam kết không dùng vũ lực dé giành chính quyền, thay đổi một số thành phần chính phủ, đưa một số người có quan điểm cải cách ôn hoà vào chính phủ để giảm bớt sức ép của phe đối lập đối với chính phủ và Tổng thống. Tổng thống trực tiếp chỉ huy các Bộ Quốc phòng, An ninh, Ngoại giao, Nội vụ.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tình hình kinh tế và việc đưa quân vào Chechnya (12-1994), uy tín của Tổng thống và chính phủ sụt giảm nghiêm trọng. Trong nội bộ chính phủ và giữa các phe phái diễn ra sự phân hoá gay gắt. Tháng 6 năm 1995, Duma ra Nghị quyết bat tín nhiệm chính phủ Chernomyrdin. Đề tránh đồ vỡ, hơn nữa tương quan lực lượng chưa đủ áp đảo, hai bên đã đi đến sự thoả hiệp với nhau.
Tổng thống phải cách chức Bộ trưởng An ninh, Nội vụ và Bộ trưởng phụ trách các vấn đề dân tộc và chính sách khu vực, còn chính phủ Chernomyrdin được tiếp tục duy trì. Trong cuộc bầu cử Duma khoá II (17-12-1995), Đảng cộng sản Liên bang Nga giành được thắng lợi lớn, còn “Đảng nước Nga ngôi nhà của chúng ta ” và các đảng phái dân chủ khác thất bại, giành được số ghế ít hơn. Năm 1996 diễn ra cuộc bau cử tổng thống nhiệm ky 4 năm (1996-2000).