CHƯƠNG 1 YEU SÁCH “ĐƯỜNG LUOI BO” CUA TRUNG QUOC 1. Dia chiến lược và tiềm nang kinh tế Biển Đông Biển Đông là một biển nửa kín và là một trong những khu vực chiến lược quan trọng bậc nhất trên thế giới, có diện tích khoảng 3,5 triệu km”, trải rộng từ vĩ độ 3° lên đến vĩ độ 26° Bắc và từ kinh độ 100° đến 121° Đông. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Bruney, Malaysia Singapore, Thái Lan và Campuchia. Với diện tích bề mặt khoảng 1.500 hải lý vuông (tương đương 3.245 km”), Biển Đông là một trong những biến lớn nhất thé giới.
Biển Đông - theo tên Tiếng Anh (South China Sea) và tiếng Pháp Mer de Chine Méridionale, là một biển ria Tây Thái Bình Dương. Biển Đông được gọi băng nhiều tên khác nhau, tùy thuộc vào thói quen truyền thống hay xuất phát từ những mục đích, động cơ khác nhau: - Nguoi Trung Quốc gọi là Nam Hải. - Người Philippines gọi là Biển Luzon, gọi theo tên hòn đảo Luzon của Philippines. Thời gian gần đây thì gọi là Biển Tây Philippines.
- - Người Việt Nam gọi là Biển Đông. Đây là tên riêng do người Việt Nam đặt để gọi một vùng biển năm phía Đông Việt Nam, tên gọi này đã đi vào tiềm thức, thành thói quen của người dân Việt Nam từ bao đời nay. Theo quy định của Ủy ban Quốc tế về biển, tên của các biển ria thường dựa vào địa danh của lục địa lớn gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng. Biển Đông nằm ở phía Nam đại lục Trung Hoa nên có tên gọi là biển Nam Trung Hoa.
Cũng cần nhân mạnh rằng, về mặt pháp lý, địa danh biển không có ý nghĩa về mặt chủ quyền hay có giá trị pháp lý để khăng định chủ quyền của một quốc gia đã đặt tên cho khu vực địa lý nào đó như một số người ngộ nhận. Chang han, goi la An Độ Duong không có nghĩa đại dương này thuộc về An Độ; vịnh Thái Lan không có nghĩa vịnh này hoàn toàn thuộc vê Thái Lan,.Vân đê quyên chủ quyên, quyên chủ quyên và quyền tài phán quốc gia trên biển được xác định và giải quyết theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982. Tiềm năng của Biển Đông Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thuy sản), khoáng sản (dau khí), du lịch. Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines, trong đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thé giới (khoảng 4,38 triệu tắn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thé giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu tan/nam), cả khu vực đánh bắt khoảng 7 - 8% tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới.) Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới.
Các khu vực thêm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hong, cửa sông Châu Giang. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiêm chứng ở Biển Đông là 07 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dau tại quần đảo Trường Sa có thé lên tới 105 tỷ thùng. Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng — được coi là nguồn năng lượng thay thé dầu khí trong tương lai gần.
Chính tiềm năng dau khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biên quanh hai quân đảo. 1 Trần Bông, “Biển Đông: Dia chiến lược và Tiềm năng kinh tế”, Nghiên cứu Biển Đông, tại địa chỉ: http://nghiencuubiendong. vn/tong-quan-ve-bien-dong/504-bien-ong-ia-chien-lc-va-tiem-nng, ngày truy cập 30/04/2017 Tầm quan trọng chiến lược của Biến Đông Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - An Độ Dương, Châu Âu — Châu A, Trung Đông — Châu A. Năm trong số mười tuyến đường biên thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biên Đông gồm: - Tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông A, Uc, Niu Di Lân; - Tuyến Đông A đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ va Caribe; - Tuyén Đông A đi Úc va Niu Di Lan, Nam Thái Binh Duong; - Tuyến Tây Bac Mỹ đến Đông A và Dong Nam A.
Biển Đông được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới được thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải qua vùng Biển Đông. Mỗi ngày có khoảng từ 150 — 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu trọng tải trên 5.000 tan, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tan trở lên. Các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Trung Quốc đều phụ thuộc vào con đường biến này dé phát triển nền kinh tế của quốc gia mình (đặc biệt trong việc vận chuyển dau và các nguồn tài nguyên từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc).
Lượng dầu lửa và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực Biển Đông còn có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai — Wetar). Dac biét, eo biên Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thé giới, sau eo biển Hormuz. Eo biển Malacca nằm giữa dao Sumatra của Indonesia và Malaysia — vi trí này rất quan trọng bởi vi tat cả các hàng hóa của các nước Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua.
Ngoài ra, hai quần dao Hoàng Sa và Trường Sa có vi trí chiến lược, có thé dùng dé kiêm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục 10 đích quân sự như đặt trạm ra da, các trạm thông tin, xây dựng các tram dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè. Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông. Phân tích quá trình hình thành và nội dung “đường lưỡi bò” qua từng thời kỳ Tính đến thời điểm công bố bản đồ “đường lưỡi bò” vào năm 2009, chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ có một tuyên bố chính thức hay có bất kỳ sự giải thích cụ thể và hợp lý nào trước cộng đồng quốc tế về sự hình thành đường này (“đường lưỡi bò” chỉ dừng lại ở việc được thể hiện nhiều lần trong một số bản đồ lưu hành trong nước). Thậm chí, trong các văn bản pháp lý quan trọng của mình như Tuyên bố về lãnh hải ngày 4/9/1958, Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp ngày 25/2/1992, Quyết định về việc phê chuẩn Công ước Luật biển của Liên hợp quốc 1982 ngày 15/5/1996, Tuyên bố về đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải ngày 15/5/1996, Luật vùng đặc quyên kinh tế và thềm lục địa ngày 26/6/1998,.
Trung Quốc cũng không dé cập đến ban đồ “đường lưỡi bò”. Vì thé, quá trình hình thành yêu sách “đường lưỡi bò” được tiếp cận dưới góc độ các quan điểm, học thuyết của một số học giả nghiên cứu về vẫn đề này. Năm 1948 Bộ Nội vụ Trung Quốc xuất bản tam bản dé II đoạn, xác định vị trí của các đảo trên Biển Đông Phần lớn các học giả Trung Quốc trong thời kỳ Trung Hoa Dân quốc đều cho rằng, sau chuyến đi khảo sát kéo dài hai tháng từ đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) đến đảo Ba Đình (Trường Sa) do Lâm Tuân làm tổng chỉ huy, vào năm 1947, Chính phủ Trung Quốc đã cho lưu hành trong nước một tập bản đồ. Tập bản đồ này có vẽ một đường mười một đoạn (đường biên giới chữ U — “đường lưỡi bò”) dé biểu thị phạm vi địa lý của quyền quan lý của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa, xa xuống tận Tang Mẫu Am Sa, hay còn gọi là Bãi Ngam James, tại tọa độ 3 độ 58 phút Bắc, 112 độ 17 phút Đông.
Đường đứt khúc này bao gồm các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, II Trường Sa và bãi ngầm Trung Sa và có điểm giới hạn phía Nam là vĩ tuyến 40. Bản đồ nay được So Dia lý, Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân quốc xuất bản công khai vào tháng 2/1948, với tên gọi “Nam hải chư đảo vị trí đồ”. Bản đồ này chính thức vẽ đường biên giới chữ U (“đường lưỡi bò”), bao gồm trong đó có cả 4 quần đảo và đánh dấu rõ ràng bãi cát ngầm Tăng Mẫu (James Shoal) ở cực Nam, vào khoảng 4 độ vĩ Bắc. Đường biên giới chữ U này Bản đồ đường 11 đoạn của Trung Quốc (Quốc Dân Đảng) năm 1947, có tên “Bản đồ các đảo trên Biển Đông” Tuy nhiên, cũng cân nói thêm răng, một sô người khác còn cô đây thời gian xuât xứ của con đường này xa hơn nhăm mục đích giải thích có lợi cho 12 Trung Quốc.
Họ cho rằng đường chữ U này do một người tên là Hu Jinjie vẽ từ năm 1914 và đến tháng 12/1947, một viên chức của Cộng hòa Trung Hoa tên là Bai Meichu đã vẽ lại đường này trong một ban đồ cá nhân dé thé hiện cảm xúc của mình khi nghe tin về việc Pháp chiếm đóng các đảo Trường Sa năm 1933. Tuy nhiên, các tác giả Trung Quốc cũng phải khách quan thừa nhận “không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?” và các nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng cho rằng bản đồ đường đứt khúc này xuất hiện trong một tập bản đồ tư nhân (chứ không phải của Nhà nước). Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, tháng 10/1949, trong một số bản đồ do Trung Quốc xuất bản, cách vẽ “đường lưỡi bò” ở Biển Đông về cơ bản vẫn rất giống với cách vẽ ở bản đồ do Chính phủ Trung Quốc công bố năm 1948. Năm 1953 Năm 1953 đường 11 đoạn đã được điều chỉnh thành 9 đoạn, bỏ 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ, không rõ nguyên nhân.