Chương 1 TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Tinh hình nghiên cứu Nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung luôn luôn là đề tài được sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, các học giả, các nhà nghiên cứu lại dành phần lớn những ưu tiên cho vấn đề này ở cấp quốc gia, những vấn đề ở cấp địa phương còn rất lẻ tẻ, tản mạn, chưa tập trung. Nhìn chung, qua quá trình sưu tầm, tập hợp tư liệu, chúng tôi nhận thấy, nghiên cứu về quan hệ Việt — Trung từ sau năm 1986 và đặc biệt từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ có ba xu hướng nghiên cứu chủ yếu sau: I-Những nghiên cứu toàn diện quan hệ Việt — Trung trên tat cả các lĩnh vực từ năm 1991 trở lại đây.
Tiêu biéu cho xu hướng này có thé ké tới các công trình chủ yếu sau: - Kỷ yêu hội thảo Quan hệ kinh tế - văn hóa Việt Nam — Trung Quốc, hiện trạng và triển vọng, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, 2001; - Kỷ yếu hội thảo Quan hệ Việt Nam — Trung Quốc, nhìn lại 10 năm và triển vọng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; - Đỗ Tiến Sâm và Furuta Motoo (chủ biên), Chính sách doi ngoại rộng mở của Việt Nam và quan hệ Việt Nam — Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003; - Kỷ yếu hội thảo Việt Nam — Trung Quốc, tăng cường hợp tác cùng nhau phát triển hướng tới tương lai, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005; - Nguyễn Đình Liêm, Những vấn dé nổi bật trong quan hệ Trung Quốc — Việt Nam 10 năm dau thế kỉ XXI và triển vong đến năm 2020 , Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2012. Các công trình nêu trên tập hợp nhiều những bài nghiên cứu về quan hệ Việt — Trung trên các lĩnh vực: chính tri - ngoại giao, thương mại - đầu tư - du lịch - văn hóa ., đem lại cái nhìn tổng thể, toàn diện về quan hệ Việt - Trung. Bên cạnh đó, cũng cần kể đến một số công trình tiêu biểu trong chủ dé này của các học giả phương tây như: - Ramses Amer, Quan hệ Trung - Việt, quá khứ, hiện tại và tương lai, 1999; - Brantly Womack, Trung Quốc - Việt Nam, nên chính trị bat đối xứng”, Nxb Đại học Cambridge, 2006; - Milton Osborn, Thuc trang và trién vọng quan hệ Trung - Việt, Tai liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, tháng 6/2006. Có thê nói, ở những góc độ khác nhau, với cách nhìn và phương pháp tiếp cận khác nhau, các tài liệu trên đã cho thấy cái nhìn đa diện, khách quan và nhiều khám phá mới xung quanh đề tai quan hệ Việt — Trung trước va sau bình thường hóa.
Các tác giả đã phân tích những thành tựu và hạn chế của quan hệ chính trị - ngoại giao — kinh tế - văn hóa Việt - Trung, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp, kiến nghị dé thúc đây hơn nữa mối quan hệ giao lưu và hợp tác giữa hai nước phát triển hơn trong tương lai. Bên cạnh đó những công trình khoa học xuất bản gần đây trong xu hướng nay đã trình bày khá tong quan và toàn diện về quan hệ Việt — Trung sau 20 năm bình thường hóa, đi vào phân tích và luận giải những vấn đề nổi bật cũng như những vấn đề đặt ra trong quan hệ hai nước trước bối cảnh quan hệ hai nước xuất hiện các yếu tố không bình thường. 2- Xu hướng nghiên cứu về quan hệ thương mại — đầu tư giữa hai nước từ sau bình thường hóa. Sở di đề tài này được tập trung nghiên cứu là bởi từ sau ngày bình thường hóa, trao đôi thương mại là lĩnh vực phát triển nhất, chủ yếu nhất trong quan hệ hai nước, và dau tư cũng là lĩnh vực tương đối nỗi bật trong quan hệ hai nước.
Có nhiều công trình khoa học tiêu biểu cho mảng đề tài này như: - Phan Văn Lịch, Quan hệ kinh tế thương mại cửa khẩu biên giới Việt - Trung với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở các tỉnh miễn núi phía bắc, Nxb. Thống kê, 1999; - Nguyễn Minh Hằng, Buôn bán qua biên giới Việt — Trung, lịch sử, hiện trạng và triển vọng”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; - Bộ Công Thương, Thương mại Việt Nam — Trung Quốc, Nxb Lao Động, 2008; - Nguyễn Đình Liêm, Quan hệ biên mậu giữa Tây Bắc - Việt Nam với Vân Nam — Trung Quốc (2001-2020), Nxb Từ dién bách khoa, 2012. Bên cạnh các sách chuyên khảo là các bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí, tập trung vào chủ đề này như: - Đinh Công Tuấn, “Buôn bán qua biên giới Việt - Trung, thực trạng và triển vọng”, Tạp chí thuong mại (số 3), 1991, - Nguyễn Thế Tăng, “Quan hệ buôn bán qua biên giới Việt Nam — Trung Quốc trong thời kì mở cửa ”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 1, 1905; - Dé Tiến Sâm, “Buôn bán qua biên giới Việt — Trung, tình hình và triển vọng”, Nghiên cứu Trung Quốc (số 6), 1996; - Nguyễn Thị Mơ, “Quan hệ Việt Nam — Trung Quốc trên lĩnh vực ngoại thương, nhìn lại 10 năm và triển vọng”, Nghiên cứu Trung Quốc (sô 6), 2001; - Lê Tuan Thanh, “Buôn bán qua biên giới Việt Nam — Trung Quốc và một số nhận xét về những điều kiện để phát triển buôn bán qua biên giới giữa hai nước” Nghiên cứu Trung Quốc (số 4), 2004. Các công trình nghiên cứu nảy tập trung phác họa thực trạng quan hệ thương mai trong đó hướng sự quan tâm chủ yếu đến trao đổi thương mại biên giới giữa hai nước (với các hình thức xuất nhập khẩu, thành phần tham gia, cơ cầu hàng hóa, phương thức thanh toán.) , đề cập đến những mặt tích cực, hạn chế của buôn bán biên giới Việt — Trung từ khi hai nước bình thường hóa và triển vọng.
Thêm nữa, một số tác giả cũng đã dé cập đến vấn dé quan lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đề xuất một số giải pháp dé hoàn thiện công tác này trên dia bàn các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Bên cạnh xu hướng nghiên cứu quan hệ thương mại giữa hai nước, mảng quan hệ đầu tư giữa hai nước cũng được các học giả hai nước đặc biệt quan tâm, nhất là các học giả Trung Quốc, đáng chú ý có các nghiên cứu sau: - Đới Khả Lai, Du Minh Khiêm: Đầu tư của Trung Quốc đối với Việt Nam: hiện trạng và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu các vẫn đề Nam Dương, số 1-2002 BOD. M3: PED Berg Hoe DUK SLI, PEA] OT FE 2002fE0138] - Ly A Trường, Vương Tùng Giang: Phân tích rủi ro của doanh nghiệp Trung Quốc dùng phương thức BOT đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Việt Nam, Tạp chí Đông Nam Á tung hoành, số 7 năm 2005 ZEA, +-AìL:r†'ElZ>l LBOTRXzV†43Ä b3 FEA TS HER RT, € RPA MLA) 2005407381 10 - Vũ Tiến Dương, Chung Hòa: Hiện trạng và triển vọng của đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam, Tạp chí Đông Nam Á tung hoành, số 09-2005 TAGES , SRA: PEER RLS, CRA) , 2005/E0937Ì - Coc Nhân: Mười co hội kinh doanh lớn của các xí nghiệp Trung Quoc ở Việt Nam, Tạp chí Xí nghiệp và khoa học kỹ thuật duyên hải, số 7-2004 =: PBEM FERS TARE, @?AffZbllt H2) 20042077 - Ly Thế Trach: Phân tích tiềm lực dau tư trực tiếp của Trung Quốc đối với Việt Nam, Tạp chí Cải cách và chiến lược, số 1 năm 2007 2 HE: 7 EDA BIBER RMIE TIT, (OCGA) 2007401771 - Vi Hồng, Mông Thông Huệ: Phân tích hiện trạng, van dé và sách lược đầu tư của Trung Quốc đối với Việt Nam, Học báo Đại học Quảng Tây (Bản triết học và khoa học xã hội), số 1-2007 BIL, SH AS: ET ROU, A RMT, (pH RCT FLARE Sh) 200770154 - Truong Tran: Phân tích triển vọng đầu tư của Trung Quốc đối với Việt Nam, Học báo Đại học Quảng Tây (Bản triết học và khoa học xã hội), Quyên 29 kỳ 2, tháng 4-2007 GREE: FEY it eR nfix2)r, EK ERC EE END, Z5294& 2H, 200774 41 ) - Chu Ai Trung, Triệu Phong, Phùng Giai Dué: Phân tích va kiến nghị đầu tư khai thác mỏ Việt Nam, Tạp chí Kim loại màu Hồ Nam, số 5-2008 REP PIES EZ: BUSH MW eR TT REM, QMRf762j8) 2008 42.0514] - Nguyễn Nữ Ha My, Trần Quyền Ngọc, Chu Kiệt: Nghiên cứu những vấn đề tồn tại và đối sách cải tiễn trong phát triển đầu tư trực tiếp Trung-Việt, Kinh tế nghiên cứu đạo san, số 1-2010 (BoA Be , W4, 2KZ§: PEL ee Be OR AR TE EA) Be EM RT FE, (AAMAS TI) 2010011]) 11 Các nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến tình hình đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam, môi trường đầu tư và chính sách pháp luật của Việt Nam, các lĩnh vực đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam như: cơ sở hạ tầng, khai mỏ.phản ánh đầu tư một chiều trong lĩnh vực hợp tác đầu tư giữa hai nước. 3- Xu hướng nghiên cứu hợp tác vùng và tiểu vùng trong khuôn khổ hợp tác Việt - Trung.
Mang đề tài này tương đối phát triển trong thời gian gần đây. Xu thé nay phản ánh nội dung những kế hoạc hợp tác trung và dai hạn giữa hai nước trong thời điểm hiện tại cũng như trong giai đoạn sắp tới. Đó là các chiến lược hợp tác “Hai hành lang, một vành đai”, “Hợp tác một trục hai cánh”, “Hợp tác vịnh Bắc Bộ mở rộng”, “Hợp tác xây dựng khu kinh tế xuyên biên giới” (Bằng Tường - Đồng Đăng và Mong Cái — Đông Hưng). Các dự án nay đã mở ra nhiều cơ hội hop tác mới giữa các địa phương hai nước, phản ánh xu hướng phát triển trong tương lai của quan hệ Việt Trung.