lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương với 11 tiết. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TỪ 2007 ĐẾN 2017 1. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - ẤN ĐỘ Một số khái niệm: Quan hệ: Trong tiếng Việt, quan hệ là sự liên quan giữa hai đối tượng hoặc hai nhóm đối tượng, sự gắn bó chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau. Trong quan hệ chính trị là quan hệ ngoại giao, quan hệ quốc tế…; Đối tác: Thường để chỉ sự cộng tác giữa hai nước trong một lãnh vực nào đó; Chiến lược: Nó không phải là một lãnh vực mà là một tầm vóc quan trọng cấp cao.
Nó thường đòi hỏi có thêm cơ chế và chính sách/kế hoạch để thực hiện. Hai bên có thể hợp tác cấp thấp và không cần thiết lập cơ chế (institution) để hợp tác, mà chỉ cần qua các chính quyền địa phương hay sở, cục trung ương. Đối tác chiến lược là mối quan hệ mang tính chất toàn cục, then chốt và có giá trị lâu dài với thời gian. Mối quan hệ gắn liền với nhiều lĩnh vực phát triển cùng có lợi với nhau (quan hệ cùng thắng) có thể có cả lĩnh vực an ninh quân sự.
Số lượng đối tác chiến lược loại này đang gia tăng nhanh chóng. Theo giáo sư Va-lê-ri Lót- xkin (Nga), "đối tác chiến lược" phải bao gồm những nội dung sau: Không tấn công lẫn nhau; không liên minh chống lại các nước khác; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phải có lòng tin lẫn nhau. Về hình thức, đối tác chiến lược có thể diễn ra linh hoạt (chính thức hoặc không chính thức, song phương hoặc đa phương, diện và mức độ tham gia rộng hoặc hẹp, nhiều hoặc ít…) và có tính mở vì không hướng tới một kết cục cụ thể. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc và Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức và Italy (2011), Thái Lan, Indonesia, Singapore và Pháp (2013), Malaysia và Philippines (2015).
Đối tác chiến lược toàn diện hay còn gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, tức là hai hay nhiều bên xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mà các bên cùng có lợi. Đồng thời hai bên còn xây dựng sự tin cậy lẫn nhau ở cấp chiến lược.Tới nay, có 3 nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam là: Nga (2012), Trung Quốc (2008) và Ấn Độ (2016); 10 z * Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ được hình thành và phát triển dựa trên một số cơ sở về lịch sử, văn hóa và lợi ích sau đây: Một là, Việt Nam và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, lịch sử. Cùng có lịch sử lâu đời, từ xa xưa đã có giao lưu về văn hóa, con người và thương mại. Phật giáo bắt đầu vào Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ thứ II sau Công nguyên thông qua hai thiền sư Ấn Độ.
Hai nước đều giành được độc lập từ ách đô hộ của thực dân, là các nước đang phát triển, từng có quan hệ gần gũi với Liên Xô. Nhân dân hai nước yêu hòa bình. Tình cảm giúp đỡ của nhân dân Ấn Độ về cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam vẫn còn sâu đậm đến ngày nay. Hai nước, hai nước cùng quan tâm chung đến nhiều vấn đề chính trị - an ninh, chính sách đối ngoại (chống đế quốc và thực dân, không liên kết, trật tự thương mại thế giới, an ninh phi truyền thống.
Hiện nay, hai nước cùng chủ trương đa đạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tạo môi trường hòa bình để tập trung phát triển kinh tế, mong muốn khu vực nói riêng và thế giới nói chung hòa bình, phát triển; coi trọng thúc đẩy quan hệ với Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); có quan tâm chung về Biển Đông. Lãnh đạo và nhân dân hai nước tin cậy lẫn nhau, có quyết tâm thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ lên một tầm cao mới. Ba là, hai nước có nhiều tiềm năng để phát triển quan hệ hợp tác về một số lĩnh vực. Hiện nay, hai nước đều là thị trường thương mại và đầu tư nhiều tiềm năng, nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên phong phú, gần gũi về địa lý.
Nhiều ngành, lĩnh vực là thế mạnh của nước này là điểm hạn chế của nước kia, tạo ra nhu cầu hợp tác, liên kết với nhau. Bốn là, các văn kiện pháp lý là cơ sở rất quan trọng để thúc đẩy quan hệ hai nước.Về song phương, hai nước đã ký các Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện (2003), về quan hệ đối tác chiến lược (2007); quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (2016), các điều ước song phương về thương mại, tránh đánh thuế hai lần, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, văn hóa, tương trợ tư pháp, địa chất, môi trường, y học dân tộc, quốc phòng, công nghệ thông tin (CNTT), hàng không, du lịch. Về điều ước đa phương, Ấn Độ đã ký kết với ASEAN: Tuyên bố chung về Hợp tác 11 z ASEAN - Ấn Độ trong thế kỷ XXI (2002), Tuyên bố về chống khủng bố (2003), Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (2003)v. Quan hệ kinh tế giữa hai nước được dựa trên các cơ sở pháp lý khá đầy đủ như: Hiệp định Thương mại 1978 (được sửa đổi năm 1997), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (1994), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (1997), Hiệp định khung về Thương mại tự do (2003), Tầm nhìn ASEAN - Ấn Độ 2020, Chương trình hành động ASEAN - Ấn Độ (2004), Văn bản thiết lập quan hệ đối tác ASEAN-Ấn Độ vì hòa bình, tiến bộ và thịnh vượng chung (2004), Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN-Ấn Độ (2009).
Bản ghi nhớ về việc Ấn Độ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ (tháng 10/2009). Đặc biệt, đặc biệt là kể từ sau khi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG) được ký kết vào năm 2009 và có hiệu lực từ 1/6/2010 đối với Việt Nam việc Ấn Độ công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam đang tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai bên. Thêm vào đó, Ấn Độ dành cho Việt Nam ưu đãi hưởng lộ trình giảm thuế sớm 3 năm so với các nước khác trong ASEAN. Đối với Việt Nam, mức thuế áp dụng với hàng hóa có xuất xứ từ ASEAN - Ấn Độ (sử dụng chứng nhận xuất sứ hàng hóa mẫu AI) cao nhất là 18% đến năm 2010 và giảm xuống còn 0-5% vào năm 2018.
Ngoài ra, hợp tác giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ký kết và triển khai nhiều thỏa thuận hợp tác với một số phòng thương mại và công nghiệp của Ấn Độ (như FICCI, ASSOCHAM, INCHAM). Các diễn đàn doanh nghiệp hai nước được tổ chức nhân các chuyến thăm cấp cao đã thu hút hàng nghìn doanh nhân tham dự. Một cơ chế quan trọng để thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương là Ủy ban Hỗn hợp về kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật (UBHH) trong đó nêu ra các dự án, chương trình hợp tác cụ thể về kinh tế v. Hơn mười năm qua, hàng chục đoàn với hàng nghìn doanh nghiệp từ nhiều hiệp hội ngành hàng của hai bên thường xuyên đến tìm hiểu thị trường của nhau, hàng năm đều tham dự nhiều hội chợ và hội thảo xúc tiến đầu tư, thương mại ở hai nước.
Từ năm 2007, hoạt động quảng bá của Việt Nam tại Ấn Độ có tăng lên và quy mô lớn hơn. Hàng năm, Ấn Độ luôn dành một số gian hàng miễn phí tại Hội chợ Thương mại quốc tế Ấn Độ (IITF) lớn nhất Nam Á và hàng chục doanh nghiệp Ấn Độ tham dự triển lãm Vietnam Expo. Ngoài ra, quan hệ kinh tế 12 z cũng được tăng cường thông qua hợp tác trong các diễn đàn doanh nghiệp hai nước như Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ (thành lập năm 2006 trong khuôn khổ Sáng kiến Hội nhập ASEAN - IAI), Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ VIEDC (thành lập năm 2009), các cuộc họp của Hội đồng Kinh doanh chung Ấn Độ - Việt Nam. Hiện nay, Ấn Độ có hơn 90 doanh nghiệp đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam (48 văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh).
Các văn phòng này chủ yếu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực: dược phẩm, máy móc, thiết bị, phụ tùng, hóa chất, vật tư nông nghiệp. Nhìn lại quá trình hợp tác kinh tế giữa hai nước thời gian qua, có thể thấy nội dung kinh tế chủ yếu tập trung vào thương mại, đầu tư và tín dụng ưu đãi. NHÂN TỐ KHÁCH QUAN 1. Tình hình thế giới từ 2007 đến 2017 Thứ nhất, về kinh tế: Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, mặc dù có một số “điểm sáng” của sự hội nhập, hợp tác khu vực, liên khu vực và quốc tế diễn ra sôi động với nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực và ở nhiều cấp độ khác nhau, được dư luận chú ý như hợp tác trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) gồm Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan năm 2014; Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP) được ký kết vào ngày 4/2/2016 là một hiệp định mang tính lịch sử, bởi TPP là hiệp định thương mại quy mô lớn và được chính giới nhiều nước quan tâm trong vòng hai thập kỷ qua.
tuy vậy, nền kinh tế thế giới vẫn là một bức tranh với màu sắc ảm đạm. Kinh tế thế giới vẫn đứng trước 3 mối đe dọa lớn là: khủng hoảng nợ công ở châu Âu, kinh tế Mỹ suy giảm và kinh tế các nước thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) - vốn là đầu tàu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đều đã không giữ được “phong độ”, tăng trưởng chậm, thậm chí sụt giảm. Bức tranh ảm đạm của nhóm BRICS là lý do chính dẫn tới việc nền kinh tế toàn cầu đánh dấu năm thứ 5 liên tiếp tăng trưởng ở mức thấp hơn 3%. Liên hợp quốc nhận định: mỗi mối đe dọa này đều có thể khiến tổng sản phẩm toàn cầu mất đi khoảng 1%-3% và tình huống xấu nhất, nó chính là “ngòi nổ” dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu.