Chương 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH AN NINH - PHÒNG THỦ BIỂN CỦA NHÀ NGUYỄN Một yếu tố quan trọng định hình nên chính sách chính là tính mục đích. Khi ban hành chính sách, chủ thể ban hành sẽ đặt ra một mục đích nhất định của chính sách. Vì vậy, muốn đạt hiệu quả của mục đích, thông thường các chính sách đều được xây dựng trên cơ sở những nhận thức và hiểu biết nhất định của chủ thể ban hành về các đối tượng của chính sách. Do đó, để hiểu và lý giải một cách sâu sắc chính sách an ninhphòng thủ biển của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX (1802 1858) thì vấn đề quan trọng đầu tiên là tìm hiểu những cơ sở nền tảng, những yếu tố tác động đến sự hình thành của chính sách.
Biển và vấn đề an ninh-phòng thủ biển đối với an ninh và chủ quyền quốc gia Là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, chiều dài lớn gấp bốn lần chiều rộng nên không có nơi nào trên đất nước Việt Nam xa biển hơn 500 km theo đường chim bay. Trong tổng số chiều dài khoảng 7.760 km đường biên giới thì Việt Nam đã có đến 3.260 km đường biên trên biển cần bảo vệ, 2.773 đảo trên vùng biển rộng lớn, đó là chưa kể những đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [77, tr. Một không gian rộng khoảng 1 triệu km2 với thềm lục địa rộng lớn bao gồm toàn bộ vịnh Bắc Bộ và một phần vịnh Thái Lan, vùng biển Đông (một biển phụ của Thái Bình Dương) được xếp vào hàng thứ ba về diện tích so với các biển kín khác, tương đương với 3/4 Địa Trung Hải. Đó là một biển nóng, nằm gần như hoàn toàn 20 z trong vành đai nhiệt đới; là một biển tương đối kín vì có nhiều đảo và quần đảo rộng lớn bao quanh.
Các đảo và quần đảo này tạo ra một loạt các eo biển làm cho sự giao thông giữa biển Đông với các biển và đại dương khác trở nên an toàn, thuận lợi. Vị trí giao thông của biển Đông không dừng lại ở ý nghĩa quốc gia, khu vực mà còn mang ý nghĩa quốc tế. Con đường thông thương ngắn và tiết kiệm mà tàu thuyền muốn vượt Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương là con đường qua biển Đông.000 năm trở về trước, biển Đông đã là một tuyến hải thương quan trọng trong khu vực. Theo gió mùa, những thương thuyền Đông Nam Á đi xuôi ngược BắcNam, giữa Đông Nam Á hải đảo (Malacca hay Gia va/Java) và Đông Bắc Á lục địa (Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và các đảo Nhật Bản), đều phải ghé qua Đại Việt và Chămpa, hai vương quốc thuộc duyên hải biển Đông [104, tr.
Ngày nay, biển Đông còn nằm ngay trên ngã tư đường hàng hải quốc tế, nhất là lượng hàng hoá quan trọng như dầu hoả, khí đốt đến Nhật đều qua con đường này. Không chỉ vậy, vùng trời biển Đông còn là đường bay quốc tế từ Xinhgapo, Băng Cốc qua Hồng Kông, Manila, Tôkyô và nhiều đường bay khác. Biển Đông có hai hiện tượng đặc biệt: thuỷ triều và dòng biển. Thuỷ triều của biển Đông dâng lên khá cao, trung bình đến 1,5 m, ở các vũng biển hay các cửa sông có thể lên tới trên 4 m.
Điều đó có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành địa hình ven biển, đến giao thông vận tải và cuộc sống dân cư vùng duyên hải. Biển Đông có hai dòng biển, một ở trong biển Đông và một ở vịnh Thái Lan. Hai dòng biển này đã tham gia bồi đắp thêm đất đai cho lãnh thổ Việt Nam, mang đến nhiều giống cá quý từ phương Bắc, phương Nam, tạo ra những bãi cá lớn, đặc biệt ở ngoài khơi Phan Thiết [79]. Thềm lục địa rất giàu sa khoáng sản biển như các kim loại hiếm, nhất là thiếc, titan, ziacôn, mônazit chứa uran và thôri, kể cả vônphram và vàng.
Đặc biệt nguồn tài nguyên dầu mỏ rất triển vọng, cả phần thềm lục địa ở miền Bắc, miền Nam, và các đảo, quần đảo ngoài khơi (Trường Sa, Hoàng Sa) đều có những túi dầu trữ lượng đáng kể [11]. Ngày nay trong xu thế phát triển chung của thế giới thì ngành công nghiệp dầu khí được coi là ngành công nghiệp chiến lược. Nhờ biển Đông, khí hậu nước ta mang nhiều đặc điểm của khí hậu hải dương, cây cỏ xanh tốt quanh năm thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp. Khi 21 z mà các ngành công nghiệp dựa trên sức mạnh của biển cả được phát triển như giao thông đường biển, ngư nghiệp, công nghiệp khai khoáng, biển Đông sẽ phát huy hiệu quả hơn những tiềm năng của mình.
Biển là một con đường quan trọng kết nối thế giới, giữa phương Đông và phương Tây, là cầu nối văn hoá các châu lục, các dân tộc. Bản thân nó cũng in đậm dấu nét trong đời sống tín ngưỡng, văn hoá của cư dân biển, tạo nên nét “văn hoá biển”, thậm chí còn hình thành cả một nền văn hoá, văn minh biển. Trong lịch sử dân tộc, cư dân Việt Nam cũng từng tạo nên những nền văn hoá, văn minh mang đậm yếu tố biển như thế, tiêu biểu là văn hóa Đông Sơn, văn hoá Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo. Với vị trí địa lý trọng yếu, nguồn tài nguyên sinh vật, sa khoáng phong phú, biển Việt Nam có ý nghĩa to lớn, chi phối mọi mặt đời sống đất nước.
Đó không chỉ là nguồn tài nguyên ven bờ mà còn cả ngoài khơi, các đảo, trên mặt nước và sâu trong thềm lục địa. Những nguồn lợi có ý nghĩa chiến lược đó cho phép chúng ta khai thác hiệu quả để phát triển đất nước nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn, nhất là vấn đề an ninh quốc gia, chủ quyền biển. Một vùng biển rộng lớn giàu tài nguyên như biển Đông sẽ là tấm đệm che chắn cho đất nước từ các quốc gia phía biển, là nguồn “biển bạc” để phát triển kinh tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn đối với chủ quyền biển do vị trí địa lý chiến lược và nguồn lợi mà biển đem lại. Những đặc điểm này sẽ chi phối tầm nhìn của những người lãnh đạo đất nước, từ đó tác động đến toàn bộ chính sách cai trị, đặc biệt là chính sách an ninh, phòng thủ biển.
Vấn đề an ninh - phòng thủ biển trong chính sách quản lý đất nước của các Nhà nước phong kiến Việt Nam trước Nguyễn Trước khi Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ được thành lập (năm 938) biển đã in đậm dấu ấn trong đời sống cư dân Việt Nam cổ xưa. Đó là hình ảnh của một “biển bạc” cất giữ huyền thoại cao đẹp và thiêng liêng về gốc tích “con rồng cháu tiên” với mẹ Tiên Âu trên núi sánh duyên cùng cha Rồng Lạc dưới biển, (huyền thoại của người Mường1, người Tày Thái cổ2 (Tày Đăm, Tày Khao) cũng mang những nét tương đồng), hay truyền thuyết Mai An Tiêm sống trên một hòn 1 Huyền thoại Hươu Ngu kết duyên cùng chàng Cá 2 Huyền thoại về cặp đôi Chim Rắn 22 z đảo hoang vắng. Gần hơn truyền thuyết, những dấu vết khảo cổ học cho thấy lịch sử cư trú của cư dân Việt Nam cổ đã có sự gắn bó với biển thể hiện qua những nền văn hóa như Soi Nhụ Cái Bèo, Hạ Long (ven biển Đông Bắc), Đa Bút, Quỳnh Văn (ven biển miền Trung), di chỉ Đồng Nai, Óc Eo (ven biển miền Nam),. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của một vương quốc biển Chămpa ở miền Trung và một đế chế biển Phù Nam ở miền Nam trong lịch sử là những minh chứng tiêu biểu cho sự hướng biển và sức mạnh khai thác biển của cư dân Việt Nam từ ngàn xưa.
* Triều Ngô (938 - 965) - Đinh (968 - 979) - Tiền Lê (980 - 1009) Chiến thắng ở cửa biển Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền chấm dứt thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ tự chủ lâu dài của các triều đại phong kiến Việt Nam. Chiến thắng đó đồng thời cũng đánh dấu những hiểu biết sâu của người Việt về đặc điểm thuỷ triều, về tầm chiến lược quan trọng của các cảng biển trong vịnh Bắc Bộ, “mở ra truyền thống Bạch Đằng, truyền thống thủy chiến, nghệ thuật tiêu diệt thật nhanh chóng và triệt để các đoàn quân xâm lược hùng mạnh ở địa đầu sông biển của Tổ quốc chỉ trong vòng một con nước triều” [45; tr. Dưới triều vua Đinh (968 979), Đinh Tiên Hoàng được nhắc đến như người “khai sử” qua biển sang Quảng Châu kết hiếu với triều Tống (Trung Hoa) vào năm 970. Rồi sau đó con trai của Đinh Tiên Hoàng lại được phong làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ (vị quan lớn về quân sự làm yên miệt biển).
Kế thừa bài học kinh nghiệm vua Ngô để lại, năm 981, một lần nữa, cửa biển Bạch Đằng lại chứng kiến chiến công oanh liệt của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc. Chiến thắng đã tiếp tục khẳng định khả năng thuỷ chiến và những hiểu biết sâu sắc của các triều đại Việt Nam về vùng cửa biển. Không những vậy, trong thời gian trị vì, Lê Hoàn còn nhiều lần chỉ huy thuỷ quân vượt biển vào Nam chinh phạt Chiêm Thành nên những hiểu biết về biển của Nhà nước thời kỳ này ngày càng được dày thêm. Cũng trong thời gian đó, hệ thống sông ngòi xuyên suốt từ Ninh Bình qua Thanh Hoá được khơi đào để tránh những trở ngại sóng gió đường biển và cũng là khơi thông con đường từ kinh đô Hoa Lư ra biển để vào Nam.
Năm 990, sứ nhà Tống là Tông Cảo được cử sang sứ nước ta, Lê Hoàn liền sai 300 thuỷ quân và 9 chiếc thuyền lớn vượt biển, đến tận cảng Thái Bình (Liêm Châu, Quảng Đông) để đón sứ giả và sau đó tổ chức thao diễn thuỷ quân ở cửa biển Vân 23 z Sàng (gần kinh đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) để “khuyếch trương quân thuỷ và tài đánh thuỷ” [93, tr. * Triều Lý (1009 - 1225) Tiếp nối những thành tựu của các triều đại trước, vua Lý tiếp tục cho khơi đào sông ngòi, nạo vét thêm nhiều cửa cảng. Hệ thống cửa biển và hải đảo được Nhà nước chú ý xây dựng thành địa đồ hoàn chỉnh, phục vụ đắc lực cho các cuộc hành quân tiến đánh Chiêm Thành hay phá Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu sau đó. Đặc biệt, dưới triều vua Lý Anh Tông, một chiến lược “tương đối đầy đủ và hệ thống” của nhà Lý đối với các vùng biển đảo Đông Bắc đã được định hình.