Tổng quan luận án

Hoạt động đối ngoại nhân dân (ĐNND) là các hoạt động đối ngoại không thuộc ngoại giao Nhà nước và đối ngoại của Đảng, do các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học hoặc các cá nhân thuộc các tầng lớp nhân dân thực hiện với các đối tác tương ứng nước ngoài. Tại Việt Nam, hoạt động này do Vụ Đối ngoại nhân dân (Ban Đối ngoại Trung ương Đảng) và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) quản lý, điều phối trực tiếp, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao. Cùng với đối ngoại của Đảng và ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân hợp thành thế "kiềng ba chân" vững chắc của nền ngoại giao quốc gia.

Vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, quan hệ quốc tế chuyển dịch từ việc phụ thuộc chủ yếu vào ngoại giao truyền thống giữa các chính phủ (G2G - Government to Government) sang việc mở rộng quan hệ nhân dân (P2P - People to People relations). Nhiều quốc gia và các tổ chức khu vực như EU, ASEAN đã xây dựng chiến lược ĐNND cụ thể để thúc đẩy hiểu biết và hợp tác lâu dài.

Giai đoạn 1991 - 2010 đánh dấu 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), thời kỳ Việt Nam chuyển hướng chiến lược đối ngoại sang độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa. Việc đi sâu nghiên cứu có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động ĐNND giai đoạn này nhằm làm rõ quá trình hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực hiện và đúc kết kinh nghiệm là yêu cầu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010, trên cơ sở đó đánh giá toàn diện hoạt động này và rút ra một số bài học kinh nghiệm phục vụ sự nghiệp đổi mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khái quát hoạt động đối ngoại nhân dân của Việt Nam trước năm 1991.
  2. Phân tích những yếu tố tác động tới quá trình hình thành, phát triển chủ trương đối ngoại nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2010.
  3. Trình bày một cách hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010.
  4. Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010, rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động đối ngoại nhân dân.
  • Phạm vi nội dung: Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với hoạt động ĐNND trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa; tập trung vào hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội nòng cốt gồm: Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐVN), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (HLHPNVN), Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (ĐTNCSHCM), Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2010 (có khái quát giai đoạn trước 1991 để bảo đảm tính liên tục). Mốc năm 1991 là thời điểm thông qua Cương lĩnh 1991 mở đầu định hướng đối ngoại đổi mới; mốc năm 2001 là bản lề phân chia hai giai đoạn nghiên cứu; mốc năm 2010 là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội X, chuẩn bị Đại hội XI và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011.
  • Phạm vi không gian: Không gian hoạt động của chủ thể thực hiện (Việt Nam) trong quan hệ, tương tác với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia thành hai nhóm công trình chính:

1. Nhóm công trình đề cập đến đối ngoại nhân dân Việt Nam

Các nghiên cứu về ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh:

  • Vũ Xuân Hồng (2003), bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân, Tạp chí Cộng sản (số 697), làm rõ phương châm "thêm bạn, bớt thù", kết hợp ba kênh đối ngoại và phát huy tính linh hoạt, thiết thực của ĐNND.
  • Phạm Hoàng Điệp (2011), bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người mở đường cho Ngoại giao nhân dân Việt Nam, Tạp chí Đối ngoại (số 5), phân tích các hoạt động ĐNND thời kỳ 1945 - 1948.
  • Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011), bài viết Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Tuyên giáo (số 10).
  • Nguyễn Thế Hưởng (2012), bài viết Vận dụng tư tưởng ngoại giao nhân dân Hồ Chí Minh trong công tác thông tin đối ngoại hiện nay, Tạp chí Thông tin đối ngoại (số 4).
  • Nguyễn Năng Nam và Trần Hồng Khánh (2012), bài viết Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân trong điều kiện hiện nay, Tạp chí Tổ chức nhà nước (số 3).

Các nghiên cứu về ĐNND Việt Nam nói chung:

  • Sách Hoạt động đối ngoại nhân dân Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia, 2003), trình bày quá trình hình thành, phong trào đoàn kết quốc tế và hoạt động của VUFO cùng các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN).
  • PGS.TS Vũ Dương Huân (2009), sách Ngoại giao và công tác ngoại giao, NXB Chính trị Quốc gia, phân tích đặc điểm mềm mỏng, linh hoạt, khả năng đi trước mở đường của ĐNND.
  • Bộ Ngoại giao (2012), sách Hỏi - đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, NXB Chính trị Quốc gia.
  • Nguyễn Văn Du (2011), bài viết Ngoại giao nhân dân với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 1).
  • Nguyễn Văn Long (2012), bài viết Phát huy mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo trong thực hiện đường lối ngoại giao nhân dân của Đảng, Nhà nước Việt Nam, Tạp chí Công tác tôn giáo (số 8).

Các công trình nghiên cứu về hoạt động ĐNND của các đoàn thể chính trị - xã hội:

  • Tài liệu tổng kết: Công đoàn Việt Nam từ Đại hội I đến Đại hội X; Văn kiện Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X.
  • Vũ Trọng Kim (chủ biên, 2009), sách Một số vấn đề lý luận về thực tiễn công tác mặt trận, NXB Chính trị Quốc gia.
  • Bài tạp chí của Hà Văn Núi (2009) về MTTQVN; Trần Hanh (2009) về Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
  • Luận văn, khóa luận tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội: Hồ Thị Liên Hương (2010), Lại Thị Thu Thủy (2009), Phí Thị Loan (2009).

Các công trình nghiên cứu về ĐNND trong quan hệ song phương:

  • Lê Văn Phong (2011), bài viết Ngoại giao nhân dân nhân tố quan trọng trong mối quan hệ Việt - Mỹ, Tạp chí Đối ngoại (số 8).
  • Somxayphone Thipphavong, Luận văn thạc sĩ về Vai trò của đối ngoại nhân dân với quan hệ Lào - Việt Nam.

2. Nhóm công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với ĐNND

  • Loạt bài viết của Vũ Xuân Hồng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại các năm 2007, 2009, 2010 phân tích sự gắn kết giữa ba kênh đối ngoại và quan hệ ĐNND Việt - Lào.
  • Lê Thị Tình (2009), bài viết Hoạt động đối ngoại nhân dân những năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 7).
  • Lê Thị Tình (2010), Luận án Tiến sĩ ĐCSVN lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1986 đến 2006, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Nhóm công trình nghiên cứu Tác giả / Công trình tiêu biểu Phạm vi / Trọng tâm nghiên cứu
ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh Vũ Xuân Hồng (2003), Phạm Hoàng Điệp (2011), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011) Nền tảng tư tưởng, bài học "lấy dân làm gốc", các hoạt động ĐNND thời kỳ kháng chiến
ĐNND Việt Nam nói chung NXB Chính trị Quốc gia (2003), Vũ Dương Huân (2009), Bộ Ngoại giao (2012) Lịch sử ĐNND, vị trí, vai trò, viện trợ nhân đạo của các TCPCPNN, đối ngoại tôn giáo
ĐNND của các tổ chức đoàn thể Vũ Trọng Kim (2009), Hà Văn Núi (2009), Trần Hanh (2009), Hồ Thị Liên Hương (2010) Hoạt động đối ngoại của MTTQVN, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh
ĐNND trong quan hệ song phương Lê Văn Phong (2011), Somxayphone Thipphavong ĐNND trong tiến trình quan hệ Việt - Mỹ và quan hệ hữu nghị truyền thống Lào - Việt
Sự lãnh đạo của Đảng đối với ĐNND Lê Thị Tình (2009, 2010), Vũ Xuân Hồng (2007, 2009, 2010) Chủ trương chung của Đảng về ĐNND giai đoạn 1986 - 2006; hoạt động của cơ quan VUFO

Khoảng trống luận án giải quyết

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận ĐNND dưới góc độ chuyên ngành hẹp, mang tính khái quát, gắn liền với ngoại giao nói chung hoặc tập trung vào cơ quan đầu mối VUFO; chưa khai thác tư liệu lưu trữ trực tiếp tại các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống theo chuyên ngành Lịch sử Đảng về sự lãnh đạo của Đảng đối với từng lĩnh vực cụ thể của ĐNND trong trọn vẹn giai đoạn 1991 - 2010. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc hệ thống hóa quá trình lãnh đạo, khảo sát đa dạng chủ thể và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm

Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Luận án phân định rõ ba khái niệm trong quan hệ quốc tế:

  • Ngoại giao truyền thống (G2G - Government to Government): Quan hệ chính thức giữa các nhà nước, chính phủ.
  • Ngoại giao công chúng (G2P-PD - Government to People / Public Diplomacy): Chính sách của chính phủ nhằm tác động tới nhận thức của công chúng trong và ngoài nước để tìm kiếm sự ủng hộ.
  • Đối ngoại nhân dân (P2P - People to People relations): Quan hệ giữa các tổ chức nhân dân, đoàn thể, hội nghề nghiệp và cá nhân của quốc gia này với các đối tác tương ứng ở quốc gia khác dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
Kênh đối ngoại Chủ thể thực hiện Đối tượng tác động Phương thức hoạt động
Ngoại giao Nhà nước (G2G) Chính phủ, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao Chính phủ các quốc gia, tổ chức liên chính phủ Nghi thức ngoại giao chính thức, đàm phán, ký kết điều ước
Ngoại giao công chúng (G2P-PD) Cơ quan chính phủ Công chúng, nhân dân các nước khác Truyền thông quốc tế, giao lưu văn hóa do chính phủ bảo trợ
Đối ngoại nhân dân (P2P) Tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp, cá nhân Nhân dân, các tổ chức phi chính phủ, đối tác quốc tế Giao lưu nhân dân, hợp tác phi chính phủ, linh hoạt, rộng mở

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo; đồng thời kết hợp các phương pháp liên ngành: phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phân tích - tổng hợp, so sánh đối chiếu và hệ thống hóa tư liệu.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam.
  2. Tài liệu báo cáo tổng kết của các tổ chức chính trị - xã hội lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Hợp tác quốc tế của Trung ương MTTQVN, Trung ương Đoàn TNCSHCM, Trung ương Hội LHPNVN, Trung ương Hội Nông dân, Trung ương Hội Cựu chiến binh và VUFO.
  3. Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo, sách chuyên khảo của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Ngoại giao, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  4. Số liệu từ Tổng cục Thống kê, thông tin trên website chính thức của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tài liệu nghiên cứu của học giả quốc tế.
  5. Luận án, luận văn lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Thư viện Quân đội, Thư viện Viện Lịch sử Đảng và Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu thành 4 chương và 10 tiết:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu về ĐNND trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐNND Việt Nam nói chung, ĐNND của các tổ chức chính trị - xã hội, ĐNND trong quan hệ song phương và các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với ĐNND. Chương này làm rõ sự khác biệt giữa các khái niệm G2G, G2P-PD và P2P, khẳng định việc sử dụng thuật ngữ "đối ngoại nhân dân" (people to people relations), chỉ ra các khoảng trống khoa học và xác lập các nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm của đề tài.

Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 1991-2001

Chương 2 gồm 2 tiết lớn:

  • Tiết 2.1: Phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo mở rộng ĐNND từ năm 1991 đến năm 2001.
    • Khái quát ĐNND trước năm 1991: Giai đoạn 1945 - 1975, ĐNND hình thành ba tầng mặt trận (mặt trận trong nước, mặt trận đoàn kết Việt - Lào - Campuchia, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam), với các mốc thành lập Ủy ban đoàn kết của Việt Nam (19/10/1956) và Ban công tác quốc tế nhân dân (tháng 2/1963). Giai đoạn 1976 - 1991, Ban Bí thư thành lập Ủy ban Việt Nam đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước (29/1/1977, chuyển về Ban Đối ngoại Trung ương đầu năm 1978). Đại hội VI (12/1986) và Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988) chuyển hướng chiến lược đối ngoại sang hòa bình và phát triển. Tháng 8/1989, Ủy ban đổi tên thành Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam; tháng 6/1989 được giao quản lý viện trợ phi chính phủ nước ngoài (PACCOM).
    • Đặc điểm, tình hình trong giai đoạn mới: Bối cảnh thế giới với sự tan rã của Liên Xô và hệ thống XHCN Đông Âu, kết thúc Chiến tranh Lạnh, sự xuất hiện của các khối kinh tế khu vực (NAFTA, AFTA, COMESA, APEC, ASEM). Bối cảnh trong nước với những thành tựu nông nghiệp (Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981, Nghị quyết 10 năm 1988), quá trình dân chủ hóa qua hoạt động chất vấn tại Quốc hội (1994), việc rút hết quân tình nguyện khỏi Campuchia (26/9/1989), bình thường hóa quan hệ Việt - Trung (đàm phán thứ trưởng 5/8/1991), khai thông quan hệ với ASEAN và tiếp xúc cải thiện quan hệ với Mỹ theo Bản lộ trình (Road Map ngày 9/4/1991).
  • Tiết 2.2: Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với ĐNND. Đại hội VII (6/1991) khẳng định đường lối đối ngoại "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước". Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) ban hành Nghị quyết Thời cuộc hiện nay và nhiệm vụ của chúng ta, chỉ rõ nhiệm vụ mở rộng và đổi mới ĐNND. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1/1994) nhấn mạnh mở rộng quan hệ nhân dân nhằm tranh thủ sự đồng tình quốc tế. Ngày 20/9/1994, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 44-CT/TW Về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân, xác định ĐNND là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung.
Mốc thời gian Văn kiện / Sự kiện lịch sử Nội dung chỉ đạo đối ngoại nhân dân
Tháng 12/1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Xác định mục tiêu hòa bình và phát triển, chuyển hướng đối ngoại rộng mở
Tháng 5/1988 Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị Chuyển hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại, ưu tiên giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế
Tháng 6/1991 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Tuyên bố "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới"
Năm 1992 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VII Đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; mở rộng và đổi mới hoạt động ĐNND
Tháng 1/1994 Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII Triển khai đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; mở rộng đối ngoại Đảng và ĐNND
Ngày 20/9/1994 Chỉ thị 44-CT/TW của Ban Bí thư Khẳng định ĐNND là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung của nước ta

Chương 3: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 2001 - 2010

Chương 3 trình bày sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh bước vào thế kỷ XXI:

  • Tiết 3.1: Những chuyển biến mới của tình hình thế giới và tình hình trong nước tác động đến hoạt động đối ngoại giai đoạn 2001 - 2010.
  • Tiết 3.2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với hoạt động ĐNND qua Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006). Hoạt động ĐNND được chỉ đạo triển khai sâu rộng trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; thúc đẩy vận động viện trợ phi chính phủ phục vụ xóa đói giảm nghèo; tăng cường giao lưu nhân dân nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, củng cố môi trường hòa bình và nâng cao vị thế của Việt Nam.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết và đánh giá toàn diện:

  • Tiết 4.1: Đánh giá ưu điểm, hạn chế và kết quả đạt được của hoạt động ĐNND giai đoạn 1991 - 2010.
  • Tiết 4.2: Rút ra 4 bài học kinh nghiệm:
    1. Xuất phát từ thực tiễn, nhận thức đúng tình hình, kịp thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ĐNND.
    2. Quán triệt sâu sắc chủ trương và nguyên tắc đối ngoại của Đảng, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường.
    3. Đa dạng hóa, đa phương hóa các hoạt động đối ngoại nhân dân, đồng thời xác định trọng tâm, chú trọng tính hiệu quả và chiều sâu.
    4. Coi trọng công tác nghiên cứu, dự báo và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác đối ngoại nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về nguồn tư liệu

  • Khai thác và công bố có hệ thống các tư liệu gốc lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và Ban Hợp tác quốc tế của các đoàn thể (MTTQVN, VUFO, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân).
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cập nhật về quá trình hình thành chủ trương ĐNND và đường lối đối ngoại của Đảng từ năm 1991 đến năm 2010.

Đóng góp về nội dung khoa học

  • Làm rõ tính kế thừa và phát triển trong tư duy lãnh đạo ĐNND của Đảng qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX, X và các chỉ thị chuyên đề (tiêu biểu là Chỉ thị 44-CT/TW).
  • Khẳng định vị trí của ĐNND như một kênh cấu thành nền ngoại giao toàn diện, tạo thế "kiềng ba chân" cùng đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động ĐNND của các tổ chức chính trị - xã hội chủ lực; chỉ ra thành tựu, hạn chế và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác đối ngoại trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Đề xuất và kiến nghị

  • Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa ba kênh: Đối ngoại Đảng, Ngoại giao Nhà nước và Đối ngoại nhân dân.
  • Nâng cao chất lượng nghiên cứu dự báo chiến lược và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác ĐNND tại các đoàn thể quần chúng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung trong phạm vi thời gian từ năm 1991 đến năm 2010; chưa khảo cứu sâu nguồn tài liệu thứ cấp quốc tế do các học giả nước ngoài nghiên cứu về ĐNND Việt Nam vì nguồn tài liệu này còn hạn chế; phạm vi chủ thể tập trung vào hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội nòng cốt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với ĐNND từ năm 2011 đến nay (theo tinh thần Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011); khảo sát các chủ thể ĐNND mới nổi như các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các viện nghiên cứu độc lập và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Quan hệ Quốc tế, Đường lối cách mạng của ĐCSVN; cán bộ làm công tác tham mưu đối ngoại tại Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, VUFO và các tổ chức chính trị - xã hội.
  • Nội dung tham khảo: Khung phân tích lý luận về ba kênh ngoại giao (G2G, G2P-PD, P2P); hệ thống tư liệu văn kiện chỉ đạo của Đảng từ năm 1991 đến năm 2010; các bài học kinh nghiệm về tổ chức, quản lý và phối hợp hoạt động ĐNND.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối ngoại nhân dân được định nghĩa như thế nào trong luận án và do những cơ quan nào trực tiếp quản lý?

Hoạt động đối ngoại nhân dân là các hoạt động đối ngoại không thuộc ngoại giao Nhà nước và đối ngoại của Đảng, do các tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học hoặc cá nhân thực hiện. Tại Việt Nam, hoạt động này do Vụ Đối ngoại nhân dân (Ban Đối ngoại Trung ương Đảng) và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) quản lý, trực tiếp điều phối, có sự phối hợp của Bộ Ngoại giao.

2. Ý nghĩa của các mốc thời gian 1991, 2001 và 2010 trong luận án là gì?

Năm 1991 mở đầu thời kỳ thực hiện Cương lĩnh 1991 với đường lối đối ngoại rộng mở; năm 2001 là mốc bản lề đánh dấu bước phát triển trong quan hệ đối ngoại sau 10 năm đổi mới; năm 2010 đánh dấu 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và kết thúc nhiệm kỳ Đại hội X, chuẩn bị bước vào Đại hội XI với Cương lĩnh bổ sung năm 2011.

3. Sự khác biệt giữa đối ngoại nhân dân (P2P) và ngoại giao công chúng (G2P-PD) là gì?

Ngoại giao công chúng (G2P-PD) là chính sách của chính phủ một nước tác động tới nhận thức công chúng trong và ngoài nước để tìm kiếm sự ủng hộ. Trong khi đó, đối ngoại nhân dân (P2P) là mối quan hệ trực tiếp giữa nhân dân, các tổ chức đoàn thể xã hội của nước này với nhân dân và đối tác nước khác dưới sự định hướng của Đảng và quản lý của Nhà nước.

4. Văn kiện chuyên đề nào của Đảng trong giai đoạn 1991 - 2001 khẳng định ĐNND là bộ phận cấu thành công tác đối ngoại chung?

Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/9/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân đã chính thức khẳng định ĐNND là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung của Việt Nam.

5. Luận án đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm cơ bản nào?

Luận án rút ra 4 bài học kinh nghiệm: (1) Xuất phát từ thực tiễn, nhận thức đúng tình hình, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; (2) Quán triệt nguyên tắc đối ngoại, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, giữ vững độc lập tự chủ; (3) Đa dạng hóa, đa phương hóa gắn với xác định trọng tâm, chiều sâu; (4) Coi trọng nghiên cứu, dự báo và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thúy Hà đã tái hiện có hệ thống quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 1991 - 2010. Công trình làm sáng tỏ sự phát triển đường lối đối ngoại của Đảng, khẳng định vị trí "kiềng ba chân" của ĐNND cùng với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ phong phú, luận án đánh giá toàn diện những kết quả, hạn chế và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị khoa học cho công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng và hoạch định chính sách đối ngoại.