phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm có ba chương: Chƣơng 1: Những nhân tố tác động đến chương trình vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên trong giai đoạn 2012 - 2017. Nội dung chính của chương này tập trung phân tích những nhân tố nội sinh, ngoại sinh đã tác động đến chương trình vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo của Triều Tiên. Chƣơng 2: Thực trạng vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên giai đoạn 2012 - 2017 và phản ứng của các bên liên quan. Nội dung chương này tập trung làm rõ thực trạng, kết quả chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên; đánh giá những vụ thử hạt nhân và phóng tên lửa đạn đạo điển hình của Triều Tiên; làm rõ ý đồ và phản ứng của các bên liên quan.
12 z Chƣơng 3: Những tác động và khả năng giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Nội dung chương này tập trung làm rõ những tác động từ vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên đối với các bên liên quan và khu vực, trong đó có Việt Nam; dự báo và làm rõ khả năng giải quyết vấn đề, trong đó có đề cập đến xu hướng quan hệ Việt - Triều. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHƢƠNG TRÌNH VŨ KHÍ HẠT NHÂN CỦA CHDCND TRIỀU TIÊN TRONG GIAI ĐOẠN 2012 - 2017 1. Nhân tố nội sinh Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) kết thúc bằng một Hiệp định đình chiến, chia bán đảo Triều Tiên thành hai nửa với ranh giới là đường vĩ tuyến 38.
Một bên là Hàn Quốc với sự hậu thuẫn của Mỹ, một bên là Triều Tiên với sự bảo trợ của Trung Quốc và Liên Xô. Do đó, hiện nay bán đảo Triều Tiên vẫn trong tình trạng chiến tranh, là một trong những nơi được vũ trang nguy hiểm nhất thế giới. Từ khi chiến tranh tạm thời kết thúc đến nay, tình hình bán đảo Triều Tiên đã trải qua nhiều trạng thái khác nhau, từ hòa dịu và hợp tác tới nghi ngờ và căng thẳng, thậm chí có thời điểm cận kề nguy cơ xung đột quân sự. Dưới sự bảo đảm an ninh, nhất là sức mạnh từ ô hạt nhân của Mỹ, Hàn Quốc từ một quốc gia mới thành lập, bị phá hủy hoàn toàn bởi cuộc chiến tranh Triều Tiên đã từng bước tái thiết đất nước, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, tạo nên kỳ tích sông Hàn, trở thành nền kinh tế thứ 4 ở châu Á và thứ 11 thế giới (2018).
Trong khi đó, Triều Tiên lấy tư tưởng Chủ thể (con người là chủ thể và quyết định mọi vấn đề) và đường lối Tiên quân (Quân đội trên hết) làm kim chỉ nam cho sự phát triển. Để bảo vệ chế độ và chủ quyền lãnh thổ, sẵn sàng đối phó với sức mạnh quân sự vượt trội của Mỹ và đồng minh, Triều Tiên với sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc đã sớm theo đuổi chương trình hạt nhân, trong đó tập trung phát triển năng lực vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã biến bán đảo Triều Tiên trở thành điểm nóng an ninh của khu vực và thế giới, khiến vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên thường xuyên lâm vào vòng luẩn quẩn khiêu khích - đàm phán - viện trợ - khiêu khích. Cho đến thời điểm hiện nay, các bên liên quan vẫn chưa tìm ra cách thức giải quyết triệt để vấn đề này.
14 z Từ khi lên nắm quyền (29.2011), Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un đã kế thừa và trung thành với tư tưởng Chủ thể, đường lối Tiên quân của các thế hệ lãnh đạo đi trước (cố Chủ tịch Kim Il-seong và Kim Jong-il), đồng thời đề ra chính sách Song tiến để duy trì chế độ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Dưới thời Chủ tịch Kim Jong-un, nhất là trong giai đoạn 2012 - 2017, quan điểm xuyên suốt của Triều Tiên là tiếp tục phát triển chương trình hạt nhân với tham vọng đưa Triều Tiên trở thành cường quốc hạt nhân, được Mỹ và cộng đồng quốc tế công nhận. Trong giai đoạn này, vấn đề hạt nhân của Triều Tiên đã chịu sự tác động từ một số nhân tố nội sinh chính như sau: 1. Nhân tố gia đình trị trong chế độ chính trị ở Triều Tiên Đặc điểm chính trị nổi bật của Triều Tiên là yếu tố gia đình trị, cha truyền con nối.
Từ khi lập quốc đến nay, Triều Tiên đã trải qua ba thế hệ lãnh đạo và đều là thành viên của gia tộc họ Kim. Chủ tịch Kim Il-seong đã lãnh đạo đất nước Triều Tiên từ ngày thành lập đến khi mất (09. Trước khi mất, Chủ tịch Kim Il-seong đã từng bước chuyển giao quyền lực cho con trai là Kim Jong-il. Tiếp nối sự nghiệp của cha, Chủ tịch Kim Jong-il đã trở thành thế hệ lãnh đạo thứ hai của Triều Tiên, nắm quyền từ năm 1994 - 2011.
Vào những năm cuối thời kỳ cầm quyền, Chủ tịch Kim Jong-il đã lựa chọn con trai Kim Jong-un là người kế nghiệp. Sau khi Chủ tịch Kim Jong-il mất (17.2011), Kim Jong-un chính thức trở thành thế hệ lãnh đạo thứ ba của Triều Tiên, kế thừa sự nghiệp chính trị của cha và ông nội. Hiện nay, Kim Jong-un nắm giữ các chức vụ quan trọng nhất (Chủ tịch Đảng Lao động, Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ) và là nguyên thủ của Triều Tiên. Bằng hình thức lãnh đạo gia đình trị, cha truyền con nối, gia tộc họ Kim đã gây dựng được vị thế, quyền lực chính trị vững chắc tại Triều Tiên và gần như không có thế lực đối lập.
Yếu tố gia đình trị giúp tư tưởng, mục tiêu chính trị chiến lược của các thế hệ lãnh đạo Triều Tiên được lưu truyền, kế thừa và phát triển một cách liền mạch, hiệu quả. 15 z Với tư tưởng Chủ thể và đường lối Tiên quân, cố Chủ tịch Kim Il- seong và Kim Jong-il đã thể hiện tham vọng đưa Triều Tiên trở thành cường quốc quân sự, trong đó mục tiêu quan trọng nhất là sở hữu vũ khí hạt nhân. Đó là kim chỉ nam để Triều Tiên tập trung mọi nguồn lực thực hiện mục tiêu chiến lược trên. Tuy nhiên, do điều kiện bất lợi (thiếu ngân sách, yếu kỹ thuật và phải chịu nhiều lệnh trừng phạt từ cộng đồng quốc tế.), nên dưới thời Chủ tịch Kim Jong-il, chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Là thế hệ lãnh đạo thứ ba, Chủ tịch Kim Jong-un thấu hiểu được di nguyện của các thế hệ lãnh đạo đi trước, nhận thức được tầm quan trọng của chương trình hạt nhân đối với sự tồn vong của chế độ, an ninh quốc gia và lợi ích dân tộc trong bối cảnh tình hình mới. Điều đó thôi thúc Chủ tịch Kim Jong-un tiếp tục trung thành với tư tưởng Chủ thể và đường lối Tiên quân, đồng thời đề ra chính sách Song tiến để kế tục sự nghiệp chính trị, trong đó ưu tiên phát triển năng lực hạt nhân, quyết tâm đưa Triều Tiên trở thành cường quốc hạt nhân được thế giới công nhận. Nhân tố cá nhân Chủ tịch Kim Jong-un Chủ tịch Kim Jong-un là một nhà lãnh đạo đặc biệt, là nhân tố quyết định tạo nên sự thay đổi cho chương trình hạt nhân của Triều Tiên, tạo tiền đề quan trọng để tiến trình phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên có được cục diện tích cực như hiện nay. Kim Jong-un được đào tạo bài bản ở cả trong và ngoài nước.
Thời gian học tập ở phương Tây (Thụy Sỹ) đã tác động, giúp Kim Jong-un hình thành tư tưởng cởi mở, nhãn quang chính trị nhạy bén, cách nhìn nhận toàn diện hơn về tình hình thực tế, mối quan hệ giữa Triều Tiên với các bên liên quan, cũng như tác động của bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực đối với Triều Tiên. Thời gian được Chủ tịch Kim Jong-il đưa vào hoạt động thực tế trong chính trường cũng giúp Kim Jong-un có thêm kinh nghiệm chính trị, tôi luyện bản lĩnh lãnh đạo, tạo nền tảng cho việc xác lập vị thế, quyền lực sau này. 16 z Từ khi lên nắm quyền, Chủ tịch Kim Jong-un từng bước xác lập được quyền lực, vị thế chính trị cho mình. Sau Đại hội Đảng Lao động Triều Tiên Khóa VII (5.2016) và kỳ họp lần thứ 4 Khóa XIII Hội nghị Nhân dân Tối cao (7.2016), Chủ tịch Kim Jong-un đã chính thức nắm giữ các chức vụ cao nhất (Chủ tịch Đảng Lao động, Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ, Tổng Tư lệnh Quân đội), được suy tôn là Lãnh đạo tối cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội Triều Tiên, có toàn quyền quyết định mọi vấn đề đối nội, đối ngoại của đất nước và ngày càng nhận được sự ủng hộ của các giai tầng trong xã hội [46].
Đặc biệt, tại kỳ họp thứ nhất Khóa XIV (4.2019), Hội nghị Nhân dân Tối cao đã bầu Chủ tịch Kim Jong-un tiếp tục giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ. Đồng thời sửa đổi Hiến pháp, chính thức đưa Chủ tịch Kim Jong-un thành nguyên thủ quốc gia (Hiến pháp sửa đổi của Triều Tiên quy định, Chủ tịch Quốc vụ sẽ đảm nhiệm vai trò nguyên thủ quốc gia). Truyền thông Triều Tiên thường xuyên dùng những ngôn từ kính trọng nhất dành cho Chủ tịch Kim Jong-un, như: Người kế thừa vĩ đại của chủ nghĩa cách mạng Chủ thể, lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Quân đội và nhân dân. Việc trở thành nguyên thủ quốc gia, đồng thời nắm giữ các chức vụ cao nhất và nắm quyền lực chính trị tuyệt đối đã tạo thuận lợi cho Chủ tịch Kim Jong-un trong quản lý, điều hành đất nước và hiện thực hóa mục tiêu chiến lược của các thế hệ lãnh đạo đi trước, trong đó có chương trình phát triển vũ khí hạt nhân.
Tuy nhiên, Chủ tịch Kim Jong-un có quyết tâm, tham vọng và biện pháp hiệu quả hơn rất nhiều. Dưới thời cố Chủ tịch Kim Jong-il, Triều Tiên thường xuyên sử dụng con bài hạt nhân để đổi lấy các gói viện trợ nhân đạo từ cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, Chủ tịch Kim Jong-un đã thay đổi tư duy đó, quyết tâm sớm hoàn thành chương trình hạt nhân, đưa Triều Tiên trở thành cường quốc hạt nhân để giành thế chủ động trong đàm phán chứ không nhận các gói viện trợ nhân đạo một cách thụ động. Trong giai đoạn 2012 - 2017, Chủ tịch Kim Jong-un 17 z chỉ thị đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm và chế tạo vũ khí hạt nhân với mục đích “thiết lập sự cân bằng sức mạnh thực sự với Mỹ, khiến Mỹ không dám tuyên bố lựa chọn biện pháp quân sự đối với Triều Tiên” [24].