Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA SAMUEL P. HUNTINGTON VỀ VĂN MINH, SỰ VA CHẠM CỦA CÁC NỀN VĂN MINH 1. Một số nét khái quát về tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh ra đời 1. Huntington sinh ngày 18 tháng Tư năm 1927 tại New York, đã từng học đại học tại Đại học Yale, lấy bằng thạc sĩ khoa học chính trị tại đại học Chicago năm 1948, lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Harvard năm 1951, là giáo sư của trường Đại học Weatherhead III (USA), Chủ tịch Viện Hàn lâm Harvard nghiên cứu về quốc tế, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Quan hệ quốc tế và là Chủ tịch khoa nghiên cứu về chính phủ.
Những năm 1977, 1978 Huntington làm việc tại Nhà Trắng với tư cách là điều phối viên của dự án an ninh cho Hội đồng an ninh quốc gia. Trong hai năm 1986, 1987 ông là Chủ tịch Hội Khoa học Chính trị Hoa Kỳ. Ông còn là người sáng lập và là Tổng biên tập trong nhiều năm liền của tờ Tạp chí Foreign Policy. Là nhà nghiên cứu chính trị và chiến lược, Huntington quan tâm nhiều đến các lĩnh vực an ninh quốc gia; dân chủ và sự phát triển ở những nước kém phát triển; văn hoá trong chính trị và bản sắc dân tộc của nước Mỹ.
Huntington có nhiều công trình nghiên cứu về các lĩnh vực trên được đăng trên các tạp chí của Mỹ như: Quân nhân và nhà nước (The Soldier and The State), Lý thuyết và quan điểm chính trị của quan hệ dân sự - quân đội (The Theory and Politics of Civil – Military) 1957; Trật tự chính trị trong xã hội thay đổi (Political Order in Changing Societies) 1968; Làn sóng thứ ba: Dân chủ hoá cuối thế kỷ XX (The third wave: Democratization in the late Twentieth Century) 1991; Sự va z 9 chạm của các nền văn minh và trật tự thế giới, (The Clash of Cilivizations and the Remaking of World Order) 1996…[Tham khảo các tài liệu số 32, 52] 1. Tác phẩm “Sự va chạm của các nền văn minh” có nguồn gốc từ một bài báo có tên “Sự va chạm của các nền văn minh” đăng trên Tạp chí Foreign Affairs, số 3, năm 1993. Sau khi bài báo được đăng, có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Tổng hợp chi tiết các cuộc tranh luận, Huntington đã đào sâu thêm từng chi tiết và viết lại thành một quyển sách dày 367 trang với tựa đề “The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order” (Sự va chạm của các nền văn minh và việc tái thiết lập trật tự thế giới) xuất bản năm 1996.
Ở Việt Nam, tác phẩm này được nhóm dịch giả Nguyễn Phương Sửu, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Phương Nam, Lưu Ánh Tuyết nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2003 với tiêu đề “Sự va chạm của các nền văn minh” 1. Một số đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội cơ bản giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến nhiều sự biến to lớn về mọi mặt cả kinh tế, chính trị, xã hội. Sự biến đổi này đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu và cả các chính trị gia phân tích tỉ mỉ, chi tiết trên nhiều góc cạnh khác nhau.
Khái quát lại, có thể thấy các đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, sự khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa xã hội nói chung và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô nói riêng đã và đang tác động nghiêm trọng đến cục diện chính trị thế giới. Sự kiện này dẫn đến ba hệ quả trực tiếp đó là: sự sụp đổ của trật tự thế giới cũ - trật tự Ianta và sự hình thành những quan điểm về trật tự thế giới mới; nhiều liên kết chính trị trước đây dựa trên nền tảng hệ tư tưởng mất đi và các liên kết chính trị quốc tế mới đang hình thành; sự khủng hoảng về bản sắc, xác định các giá trị cá nhân và vấn đề quay trở lại chủ nghĩa dân tộc. Ví dụ, trước đây để ngăn z 10 chặn chủ nghĩa cộng sản, nhiều quốc gia thuộc thế giới Hồi giáo tham gia liên minh quân sự với các nước phương Tây. Hiện nay, chủ nghĩa cộng sản không còn là nguồn đe dọa nữa thì các liên kết này cũng tan rã theo, thế vào đó là các mối quan hệ dựa trên các nền tảng khác nhất là văn hóa.
Cũng tương tự như vậy, trước đây một người là “cộng sản” (có tính chất hệ tư tưởng) bây giờ chủ nghĩa cộng sản không còn nữa, họ lấy bản sắc dân tộc làm điểm xác định “người Nga”, “người Serbia”, “người Ucraina”…(có tính chất văn hóa, văn minh) là những khái niệm thay thế. Đây chính là cơ sở khách quan để hình thành các quan điểm về “văn minh – xung đột văn minh”, “sự hình thành trật tự thế giới mới.” Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại diễn ra như vũ bão nhất là cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã làm cho thế giới trở nên nhỏ bé hơn, thế giới được coi như một “ngôi làng toàn cầu” (chữ của T. Theo chúng tôi, đây cũng là một lý do dẫn tới sự xuất hiện những tư tưởng “xung đột văn minh”, tại sao trước đó không ai nhắc tới, không ai chú ý hay không diễn ra các hành động mà chúng ta gọi là xung đột văn minh? Phải chăng cuộc cách mạng thông tin, quá trình toàn cầu hoá về kinh tế làm cho con người có nhu cầu khẳng định và bảo vệ bản sắc riêng của mình. Cách mạng thông tin làm cho mỗi hành vi đơn lẻ có giá trị toàn cầu, điều mà T.
Friedman gọi là “toàn cầu hoá cá nhân”. Thứ ba, quá trình khu vực hoá và quốc tế hoá, trước hết trên lĩnh vực kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ tác động sâu sắc tới mọi mặt của thế giới, quá trình này đang bị chi phối bởi các nước phát triển và các tập đoàn xuyên quốc gia. Quá trình quốc tế hoá kinh tế đã đưa đến hệ quả chính trị - xã hội và quan hệ quốc tế là: chủ nghĩa tư bản đã trở thành một hệ thống toàn thế giới của một nhóm nhỏ các nước phát triển áp bức các nước kém phát triển và dùng sức mạnh tài chính để thống trị đại đa số nhân dân thế giới. Quá trình quốc tế hoá z 11 kinh tế cũng kéo theo các mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, giữa các dân tộc phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc, giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa các nước đế quốc với nhau tăng cao.
Hệ quả chính trị rõ rang nhất của quá trình toàn cầu hóa này là: các nước tư bản phát triển đang ra sức bành trướng các quan hệ tư bản chủ nghĩa ra toàn thế giới và thiết lập hệ thống phân công lao động thế giới theo mô hình “trung tâm - ngoại vi” do họ là trung tâm phần còn lại của thế giới là ngoại vi; ngược lại, các nước đang phát triển và chậm phát triển đang nỗ lực tranh thủ quá trình toàn cầu hoá kinh tế để thực hiện kiểu phát triển rút ngắn và phấn đấu cho một hệ thống phân công lao động thế giới và hệ thống quan hệ quốc tế dân chủ và bình đẳng; các nước lớn vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau, cạnh tranh quyết liệt với nhau trong việc đấu tranh để hình thành “trật tự thế giới mới” thay thế cho “trật tự hai cực” đã tan vỡ cùng với sự sụp đổ của Liên Xô. Mỹ muốn “trật tự đơn cực” do Mỹ làm bá chủ. Các nước khác, nhất là Nga, Trung Quốc, EU, Ấn Độ…muốn “trật tự đa cực” mà bản thân họ cũng là các cực đối trọng với Mỹ. Thứ tư, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố xảy ra nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng.
Quá trình toàn cầu hoá, bên cạnh tăng thêm quan hệ hợp tác, hiểu biết giữa các quốc gia dân tộc cũng làm nảy sinh sự thức tỉnh về lợi ích của các quốc gia dân tộc. Cộng với sự phát triển của chủ nghĩa bá quyền, mưu toan làm bá chủ thế giới của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ đã đẩy xung đột trong xã hội loài người hiện nay diễn ra dưới những màu sắc dân tộc, tôn giáo, sắc tộc với những quy mô, phạm vi, mức độ căng thẳng, quyết liệt khác nhau. Xu hướng của các xung đột này khi âm ỉ, khi bùng phát; phạm vi của nó có thể trong một quốc gia, dân tộc thậm chí khu vực hay toàn cầu. Từ những cuộc xung đột đó làm nảy sinh nhiều tình huống phức tạp như chạy đua sản xuất, buôn bán vũ khí, chiến tranh, khủng z 12 bố, can thiệp, lật đổ…Những đặc điểm chính của các cuộc xung đột liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo giai đoạn hiện nay là: xu hướng chính trị hóa các vấn đề tôn giáo; xu hướng quốc tế hóa các vấn đề tôn giáo và các cuộc xung đột tôn giáo ngày càng mang yếu tố bạo lực gắn với các hoạt động khủng bố.
Việc giải quyết vấn đề này liên quan đến nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, nhiều lĩnh vực. Vấn đề đặt ra là, các quốc gia, các dân tộc, các tôn giáo phải biết tôn trọng những quy luật chung để cùng tồn tại, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của mọi người, mọi quốc gia, dân tộc khác. Có thể thấy rằng, ở giai đoạn hiện nay của quá trình toàn cầu hoá, sự hợp tác và đấu tranh cũng như các liên kết, liên minh, tập hợp lực lượng trên trường quốc tế đang xoay quanh mấy chủ đề lớn là: chiến tranh và hoà bình; độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia; sự phát triển bền vững; sự hình thành trật tự thế giới mới. Văn minh không phải là cái mới xuất hiện, cũng không phải là khái niệm mới mà trái lại, “lịch sử nhân loại là lịch sử của các nền văn minh” [52-32].
Trong các nền văn minh đương đại, có những cái đã tồn tại rất lâu như văn minh Trung Hoa (Khổng giáo), văn minh Ấn Độ (Hinđu), có những cái mới hơn như văn minh phương Tây hay văn minh Mỹ Latinh nhưng tại sao trước đó các nền văn minh này lại không va chạm với nhau (trước đó đã có nhưng không thành một xu thế chủ đạo) mà chỉ sau chiến tranh Lạnh các nền văn minh này mới va chạm với nhau tạo thành một xu thế chủ yếu trong chính trường quốc tế? Chắc hẳn các điều kiện kinh tế xã hội là nguyên nhân không nhỏ chi phối xu thế này.