mở đầu cho quá trình xâm chiếm Việt Nam. Bốn năm sau, vào năm 1862, Triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng cho Pháp ba tỉnh miền đông Nam Kỳ. Sau đó 5 năm, vào năm 1867, thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Sau khi lay được toàn bộ Nam Kỳ, thực dân Pháp bat đầu mở rộng công cuộc xâm chiếm ra các tỉnh thành khác.
Đến năm 1884, quá trình xâm lược cơ bản được hoàn thành, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp sau khi Hiệp ước Patenôtre hay còn gọi là Hòa ước Giáp thân (6/6/1884) được ký kết. Với 19 điều khoản, Hòa ước Giáp Thân đã tước bỏ hầu như toàn bộ nền tự chủ của Việt Nam [Vũ Dương Ninh, 2010]. Từ sau Hòa ước Giáp Thân, Việt Nam chịu sự đô hộ của thực dân Pháp. Đây là thời kỳ lầm than của dân tộc Việt Nam.
Lãnh thổ Việt Nam bị phân chia và chịu sự cai trị của Pháp, nhân dân Việt Nam bị áp bức vê nhiêu mặt. 19 Sự đô hộ của Pháp đối với Việt Nam chỉ chính thức kết thúc sau khi Việt Nam giành Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, buộc Pháp phải kí Hiệp định Geneve chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhìn chung, trong giai đoạn 1858 - 1954, mối quan hệ Việt Nam - Pháp hoặc là ở trong tình trạng kẻ thống trị và bị trị hoặc là kẻ thù giữa hai bờ chiến tuyến. Sau Hiệp định Geneve, mặc dù chiến tranh Việt Nam - Pháp đã kết thúc nhưng quan hệ giữa hai nước cũng không may tốt đẹp do bối cảnh phức tạp của thời kì Chiến tranh lạnh và Cuộc chiến tranh Việt Nam do Mỹ tiến hành.
Có thê nói, trong một thời gian khá dài hai nước gần như ở hai phe đối nghịch. Mặc dù vậy, vào giai đoạn sau, Pháp đã thi hành chính sách trung lập, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tổ chức Hội nghị Pari. Sau khi Hiệp định Pari được kí kết, quan hệ Việt Nam - Pháp đã bước sang một trang mới. Hai nước chính thức đặt quan hệ ngoại giao vào ngày 12/04/1973.
Quan hệ Việt Nam - Pháp giai doan 1973 - 1991 Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào năm 1973, Việt Nam và Pháp bắt đầu đây mạnh quan hệ trên nhiều mặt. Trong giai đoạn 1973 - 1991, quan hệ chính trị Việt Nam - Pháp được duy trì ổn định với những chuyến thăm viếng lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước. Về phía Việt Nam, có các chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào tháng 4/1977, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch vào tháng 4/1982, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ vào tháng 4/1984. Về phía Pháp, có chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp De Guiringard vào tháng 9/1978, Thứ trưởng ngoại giao Stirg vào tháng 7/1979.
Ngoài ra, Việt Nam và Pháp còn thành lập Ủy ban hỗn hợp do hai Bộ trưởng ngoại giao làm chủ tịch nhằm thúc đây sự hợp tác giữa hai nước. Trong lĩnh vực kinh tẾ, Pháp đã kí với Việt Nam các các nghị định thư tài chính vào các năm 1973, 1974, 1975, 1976., các Hiệp định vận chuyển 20 hàng không (14/4/1977), Hiệp định hàng hải (7/9/1978), các Hiệp định khung về “hợp tác kinh tế và công nghiệp”, “hợp tác văn hóa, khoa học kỹ thuật”. Pháp cũng hỗ trợ Việt Nam trong quá trình khôi phục đất nước. Trong những năm 80, quan hệ hai nước bị ngưng dong do van dé Campuchia.
Trong khi phương Tây thi hành chính sách cô lập, bao vây cắm vận và gây sức ép để Việt Nam rút khỏi Campuchia thì Pháp là nước phương Tây duy nhất duy trì quan hệ hợp tác văn hoá, khoa học - kỹ thuật, giáo dục và dao tao với Việt Nam [TTXVN, 2021]. Cũng trong giai đoạn này hai nước đã thành lập Uỷ ban hỗn hợp Hợp tác Văn hóa, Khoa học kỹ thuật liên Chính phủ (năm 1982) họp thường kỳ hai năm một lần (tuy nhiên ủy ban này đã ngừng hoạt động vào năm 2000). Từ năm 1989, quan hệ Việt Nam - Pháp bắt đầu được cải thiện trở lại. Trong thời gian này, Pháp đã thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ Việt Nam, một trong số đó là việc xoá nợ.
Đồng thời, Pháp cũng giúp Việt Nam giải quyết nợ với các nước chủ nợ là thành viên Câu lạc bộ Paris. Từ năm 1988 đến năm 1990, Pháp luôn là nước đứng đầu trong lĩnh vực đầu tư vào Việt Nam với số vốn lên tới 53 triệu USD [Ngô Minh Oanh, 2008]. Trong năm 1989 hai nước cũng ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật. Nhìn chung, trong giai đoạn này, Việt Nam và Pháp năm ở hai phe đối đầu về ý thức hệ.
Do chịu ảnh hưởng chung từ tình hình thế giới quan hệ Việt Nam - Pháp không có nhiều cơ hội dé phát triển mạnh mẽ. Mặc dù vậy, quan hệ giữa hai nước cũng đã có những khởi đầu đáng ghi nhận, trải đều khắp các lĩnh vực, đặc biệt là chính trị và kinh tế. Quan hệ Việt Nam - Pháp giai đoạn 1991 - 2012 Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp dé đã tạo nên ảnh hưởng rất lớn đến tình hình 21 chính trị thế giới và cục diện toàn cầu. Thế giới chuyên từ trật tự hai cực sang quá trình định hình một trật tự mới với cuộc chạy đua quyền lực giữa các nước lớn.
Quan hệ quốc tế theo xu thế vừa hợp tác, cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau. Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới đòi hỏi các quốc gia phải điều chỉnh chính sách, chiến lược của mình. Để thích ứng với tình hình mới, đồng thời tăng cường ảnh hưởng, Pháp đã chủ trương xây dựng chính sách ngoại giao mang tinh chất toàn cầu. Ngoài việc đặt ưu tiên số một cho khu vực châu Âu, thì chính sách của Pháp cũng đặc biệt coi trọng châu Á.
Điều này được thể hiện trong việc hoạch định chính sách châu Á mới của Pháp vào năm 1994. Thêm vào đó, trong những năm 1990, nền kinh tế Pháp có nhiều biểu hiện của quá trình suy thoái song trùng. Trong bối cảnh đó, với mong muốn tìm kiếm một thị trường 6n định ngoài châu Âu, Pháp đã thay đổi chiến lược và địa bàn đầu tư kinh tế, hướng tới một thị trường tiềm năng và quen thuộc là châu Á. Đề thực hiện chính sách “đa dạng ở châu Á”, Pháp muốn thông qua Việt Nam tiếp cận với các quốc gia Đông Nam Á khác.
Về phía Việt Nam, bắt đầu từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, qua các kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện sự chuyên biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động trong quan hệ đối ngoại. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chính sách đối ngoại rộng mở, tăng cường hội nhập quốc tế theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới, phan đấu vi hòa bình, độc lập và phát triển” [Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, tr. Chủ trương trên đã trở thành cơ sở dé Việt Nam tiếp tục nâng cao quan hệ với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triên cao, có môi quan hệ truyền thông như Pháp. 22 Sự gặp gỡ giữa hai đường lỗi của hai nhà nước xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của chính bản thân mỗi nước đã góp phần thúc đây quan hệ song phương Việt Nam - Pháp trên mọi mặt lên một tầm cao mới.
Chuyên thăm Việt Nam của Tổng thống Pháp Francois Mitterand vào tháng 3/1993 đã đánh dau bước chuyền trọng tâm quan trọng trong chính sách của Pháp. Mitterand trở thành lãnh đạo phương Tây đầu tiên thăm Việt Nam kề từ năm 1975. Tiếp sau đó, Tổng thống Chirac thăm Việt Nam vào năm 1997 và quay lại vào năm 2004. Ngoài ra còn có chuyên thăm Việt Nam của Chủ tịch Thượng viện Poncelet năm 2003 và 2008, Thủ tướng Fillon tháng 11/2009.
Về phía Việt Nam, có các chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 6/1993), Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (10/1993), Chủ tịch nước Lê Đức Anh (tháng 5/1995), Thủ tướng Phan Văn Khải năm 1998; Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu năm 2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương năm 2002, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh năm 2005, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An năm 2005, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2007, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng năm 2008, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thăm Pháp tháng 3/2013 [Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013]. Đặc biệt, chuyến thăm của Tổng Bi thư Nông Đức Mạnh vào ngày 6/6/2005 đã thiết lập khuôn khổ quan hệ Việt Nam - Pháp là “hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, lâu dài, tin cậy trong thế kỷ 21”. Sự kiện này đánh dấu một cột mốc đáng ghi nhận trong quan hệ chính tri, ngọai giao Việt Nam - Pháp. Không chỉ thường xuyên trao đổi đoàn cấp cao, trong giai đoạn này hai nước còn thiết lập nhiều cơ chế hợp tác, đáng lưu ý có: Nhà Pháp luật Việt Nam - Pháp thành lập năm 1993 trên cơ sở Hiệp định giữa hai Chính phủ.
Phiên thứ 16 đã họp tại Việt Nam tháng 02/2009; Hội đồng cấp cao vì sự phát triển hợp tác kinh tế Việt Nam - Pháp; Diễn đàn kinh tế tài chính Việt Nam - Pháp (2000) do ADETEE, cơ quan hợp tác Bộ Kinh tế Pháp và Viện Chiến 23 lược Phát triển, Bộ Kế hoạch - Đầu tư Việt Nam đồng tô chức [Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2012]; Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (1992); Hiệp định hợp tác y tế và y học (1992); Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần (1993); Hiệp định về hợp tác pháp luật và tư pháp (1993); Hiệp định hợp tác về du lịch (1996); Hiệp định tương trợ tư pháp về các van dé dân sự (1999); Hiệp định hợp tác hàng hải (2000); Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi (2000); Hiệp định về miễn thị thực lưu trú ngăn hạn đối với người mang hộ chiếu ngoại giao (2004); Hiệp định hợp tác khoa học công nghệ (2007); Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực giữ gìn trật tự an toàn xã hội (2009); Hiệp định về hợp tác sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình (2009); Hiệp định về các Trung tâm Văn hóa (2009); Hiệp định về việc thành lập và phát triển Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (2009).