Tổng quan luận án

Công trình Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018 là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Thế giới (mã số 9229011), do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tuấn thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Văn Hiển, bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia cùng thuộc khu vực châu Á, sở hữu sự gần gũi về vị trí địa lý, các mối liên hệ lịch sử cùng nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiên và văn hóa. Hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/9/1973. Trải qua những thăng trầm lịch sử và giai đoạn tạm thời đình trệ do tác động của Chiến tranh Lạnh cũng như "Vấn đề Campuchia", quan hệ song phương đã được nối lại và phát triển mạnh mẽ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.

Bước sang thế kỷ XXI, từ năm 2002 đến năm 2018, quan hệ Nhật Bản - Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển toàn diện, sâu rộng trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng. Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng nảy sinh những hạn chế và bất cập xuất phát từ sự khác biệt về thể chế, trình độ phát triển và tính chất một chiều trong một số lĩnh vực hợp tác. Luận án được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng, tiến trình vận động, tổng kết các thành tựu và hạn chế, qua đó cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ tiến trình vận động và phát triển của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2018 trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng; trên cơ sở đó làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế, rút ra các đặc điểm, tác động cũng như những vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách cho Việt Nam trong quan hệ với Nhật Bản.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ những cơ sở và nhân tố mới tác động đến quan hệ Nhật Bản - Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2018.
    2. Trình bày một cách hệ thống quá trình vận động và phát triển của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng từ năm 2002 đến năm 2018.
    3. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế, rút ra những đặc điểm, phân tích những tác động của mối quan hệ này đối với mỗi nước và khu vực; làm rõ những vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách cho Việt Nam trong quan hệ hợp tác với Nhật Bản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình vận động và phát triển của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng từ năm 2002 đến năm 2018.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào quan hệ song phương giữa hai chủ thể Nhật Bản và Việt Nam trong không gian khu vực châu Á và các cơ chế đa phương liên quan.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 2002 (thời điểm thiết lập khuôn khổ "Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài") đến năm 2018 (kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và tròn 10 năm ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 3 trụ cột chủ yếu gồm chính trị - ngoại giao, kinh tế (thương mại, đầu tư FDI, viện trợ ODA) và an ninh - quốc phòng, gắn liền với các hoạt động hợp tác song phương và đa phương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả phân loại các công trình nghiên cứu trong nước thành hai nhóm chính:

  • Nhóm nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Việt Nam:
    • Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI (Nguyễn Xuân Sơn và Nguyễn Văn Du, 2006).
    • Chính sách đối ngoại của các nước lớn trong giai đoạn hiện nay (Nguyễn Thị Quế, 2015).
    • Chính sách của Nhật Bản đối với ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI (Ngô Phương Anh, 2020).
    • Các công trình của Phạm Bình Minh: Cục diện thế giới đến năm 2020 (2010), Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020 (2010), Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới (2011).
    • Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới (Nguyễn Hoàng Giáp và Nguyễn Thị Quế, 2013).
    • Quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Tiểu vùng sông Mekong từ sau Chiến tranh lạnh đến nay (Huỳnh Phương Anh, 2017).
  • Nhóm nghiên cứu trực tiếp về quan hệ Nhật Bản - Việt Nam:
    • Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai (Ngô Xuân Bình và Trần Quang Minh, 2005).
    • Xây dựng đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản: Nội dung và lộ trình (Trần Quang Minh và Phạm Quý Long, 2011).
    • 40 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Thành quả và triển vọng (Nguyễn Tiến Lực, 2014).
    • Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh (Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Tất Giáp, 2013).
    • Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: 45 năm nhìn lại và hướng tới tương lai (Trần Quang Minh, 2019).
    • Các ấn phẩm của Bộ Công thương: Hiệp định đối tác toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) (2011); Tận dụng ưu đãi trong Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (2016).
    • Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam (Đinh Trung Thành, 2010).

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Nguồn tài liệu quốc tế được tổng thuật qua hai mảng lớn:

  • Nhóm công trình tổng quan về chính sách và quan hệ đối ngoại:
    • Japan’s Foreign Policy, 1945 - 2009: The Quest for a Proactive Policy (Kazuhiko Togo, 2010).
    • Japan’s International Relations: Politics, economics and security (Glenn D. Hook, Julie Gilson, Christopher Hughes và Hugo Dobson, 2011).
    • Các công trình của Irie Akira: Ngoại giao Nhật Bản - Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hóa (2012) và Ngoại giao Nhật Bản từ Minh Trị Duy Tân đến hiện đại (2013).
    • Japan’s Foreign Relations in Asia (James D. Brown và Jeff Kingston, 2017).
    • Luận án Vietnam’s Foreign Policy in the Post - Cold War Era: Ideology and Reality (Lương Ngọc Thanh, 2013).
    • Những bài học về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản (Kimura Hiroshi, Furuta Motoo và Nguyễn Duy Dũng, 2005).
  • Nhóm công trình chuyên sâu theo từng lĩnh vực:
    • Chính trị - ngoại giao: Công trình 「日本にとってのベトナムの重要性」(Tầm quan trọng của Việt Nam đối với Nhật Bản) của Umeda Kunio (梅田邦夫, 2020); báo cáo “日本とベトナムのパートナーシップこれまで、そしてこれから” (Quan hệ đối tác Nhật Bản - Việt Nam: Quá khứ và tương lai) của JICA (2013).
    • Kinh tế: Báo cáo “ベトナムの日本食品市場, 水産物・果物の輸入販売状況について” (Thị trường thực phẩm Nhật Bản tại Việt Nam, tình hình nhập khẩu và bán thủy sản, hoa quả) của Kamiya Yasuko (神谷 靖子, 2018).
    • An ninh - quốc phòng: New Directions in Japan’s Security Non - U.S. Centric Evolution của Paul Midford và Wilhelm Vosse (2020); Khả năng và những vấn đề trong hợp tác phòng vệ Việt Nam - Nhật Bản của Toshiharu Tsuboi (2014); bài viết “海自が存在感、中国を牽制 P3C派遣しベトナム海軍と合同訓練” trên báo Sankei (産経, 2016).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ ra rằng đa số công trình trước đây chỉ tiếp cận quan hệ hai nước theo từng lĩnh vực chuyên biệt (chính trị, ngoại thương, FDI hoặc an ninh) hoặc nằm trong khung thời gian hẹp, chưa bao quát trọn vẹn tiến trình 2002 - 2018. Chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống tiến trình vận động, phát triển và bản chất quan hệ song phương dưới góc độ Sử học với chủ thể quan hệ là Nhật Bản từ góc nhìn của nhà nghiên cứu Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tổng hợp đa chiều các nguồn tư liệu gốc để dựng lại bức tranh lịch sử hoàn chỉnh trong 16 năm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Luận án quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hội nhập quốc tế và quan hệ hợp tác với Nhật Bản.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng xuyên suốt để tái hiện tiến trình quan hệ theo trình tự thời gian và vạch ra bản chất, quy luật vận động của mối quan hệ.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp chuyên gia và dự báo khoa học nhằm đánh giá tác động đa chiều của các sự kiện ngoại giao, kinh tế, an ninh.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Nguồn tư liệu gốc:
    • Phía Nhật Bản: Học thuyết và tuyên bố chính sách đối ngoại của các đời Thủ tướng Nhật Bản; Sách Xanh Ngoại giao (Diplomatic Bluebook) hàng năm của Bộ Ngoại giao Nhật Bản; báo cáo thống kê thường niên của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA); các báo cáo về thương mại, đầu tư FDI và ODA.
    • Phía Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam; phát biểu chính thức của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Ngoại giao; Sách Xanh Ngoại giao Việt Nam; số liệu thống kê từ các bộ, ngành về xuất nhập khẩu, thu hút FDI và tiếp nhận ODA.
    • Văn kiện song phương: Các hiệp định, hiệp ước, tuyên bố chung, thỏa thuận cấp chính phủ và bản ghi nhớ giữa các bộ, ngành hai nước được ký kết trong giai đoạn 2002 - 2018.
  2. Nguồn tư liệu thứ cấp: Các sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học, bài báo nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế, tài liệu lưu trữ điện tử từ các cơ quan nghiên cứu uy tín.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này thực hiện việc hệ thống hóa, phân loại và đánh giá thành tựu của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chính sách đối ngoại của Việt Nam, chính sách đối ngoại của Nhật Bản và quan hệ song phương giữa hai quốc gia.

Tác giả chỉ rõ những kết quả đã đạt được của giới học thuật: làm sáng tỏ cơ sở lịch sử quan hệ, phân tích động thái chính sách của từng nước và phản ánh kết quả hợp tác trên các lĩnh vực riêng lẻ. Đồng thời, chương 1 khẳng định tính độc lập và không trùng lặp của đề tài luận án khi nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống toàn bộ tiến trình 2002 - 2018 trên cả ba trụ cột chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng dưới góc độ Sử học.

Chương 2: Cơ sở và nhân tố tác động đến quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018

Chương 2 phân tích các nền tảng và nhân tố định hình mối quan hệ hai nước trong giai đoạn nghiên cứu:

  • Những cơ sở lịch sử, văn hóa:
    • Vị trí địa lý châu Á gần gũi, sự tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, tín ngưỡng - tôn giáo, phong tục tập quán và truyền thống giao lưu thương mại, văn hóa được xác lập từ sớm trong lịch sử.
    • Thành quả hợp tác giai đoạn 1973 - 2001 đóng vai trò là nền tảng lịch sử và đòn bẩy quan trọng cho sự bứt phá của quan hệ song phương từ năm 2002 trở đi.
  • Những nhân tố tác động:
    • Bối cảnh quốc tế và khu vực (nhân tố khách quan): Xu thế đa cực hóa, đa trung tâm; sự thay đổi trong phương thức tập hợp lực lượng quốc tế; tác động của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ; sự định hình cấu trúc khu vực Đông Á với các tầng nấc hợp tác đan xen cạnh tranh quyết liệt.
    • Nhân tố nước lớn (nhân tố khách quan): Sự điều chỉnh chiến lược của các cường quốc Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương và chính sách của các nước này đối với Việt Nam.
    • Vị trí của nhau trong chính sách đối ngoại (nhân tố chủ quan quyết định): Cả Nhật Bản và Việt Nam đều xác định đối phương có vị trí địa - chiến lược, chính trị, an ninh và kinh tế then chốt trong đường lối đối ngoại của mình.

Chương 3: Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trên các lĩnh vực chủ yếu (2002 - 2018)

Đây là chương nội dung trọng tâm, phản ánh toàn diện các mặt hoạt động hợp tác giữa hai nước:

1. Khung pháp lý và quan hệ chính trị - ngoại giao

Trong 16 năm, hai nước đã thiết lập hệ thống khung pháp lý vững chắc với khoảng 33 chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao. Các mốc nâng cấp quan hệ tiêu biểu gồm:

  • Tháng 4/2002: Tuyên bố chung thiết lập quan hệ "Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài" (nhân chuyến thăm của Thủ tướng Koizumi).
  • Tháng 4/2009: Tuyên bố chung thiết lập "Quan hệ đối tác chiến lược" vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á (nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh).
  • Tháng 3/2014: Tuyên bố chung nâng cấp lên "Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á" (nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang).
  • Các chuyến thăm dấu mốc khác: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm Nhật Bản (2007); Thủ tướng Shinzo Abe thăm Việt Nam (2013); Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu thăm chính thức Việt Nam (2017).
  • Các văn kiện kinh tế và an ninh nền tảng: Sáng kiến chung Nhật - Việt (4/2003); Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư (12/2004); Hiệp định Thương mại tự do Nhật - Việt (2006); Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA, 2008); Chương trình Hỗ trợ quốc gia cho Việt Nam (7/2009); Bản Ghi nhớ về Hợp tác và Trao đổi quốc phòng song phương (2011); Tuyên bố Tầm nhìn chung về Hợp tác quốc phòng hướng tới thập niên tiếp theo (2018).

2. Lĩnh vực kinh tế

Hợp tác kinh tế là điểm sáng nổi bật nhất trong quan hệ hai nước giai đoạn 2002 - 2018:

  • Thương mại: Tổng kim ngạch thương mại hai chiều giai đoạn 2002 - 2018 đạt 323.661 triệu USD. Kim ngạch tăng từ hơn 4.940 triệu USD (năm 2002) lên gần 38.000 triệu USD (năm 2018), tăng gần 8 lần. Cơ cấu xuất nhập khẩu mang tính bổ sung cho nhau. Trong cả giai đoạn, Nhật Bản có 9 năm xuất siêu và 8 năm nhập siêu từ Việt Nam; tổng giá trị xuất khẩu của Nhật Bản sang Việt Nam là 159.671 triệu USD, nhập khẩu từ Việt Nam là 163.990 triệu USD (Việt Nam xuất siêu 4.319 triệu USD).
  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Lũy kế đến 31/12/2018, Nhật Bản đứng thứ 2 trong 135 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 4.007 dự án còn hiệu lực (chiếm 14,6% tổng số dự án), tổng vốn đăng ký đạt hơn 57.372 triệu USD (chiếm 18,8% tổng vốn FDI tại Việt Nam), phân bổ trên 19 ngành/lĩnh vực và hiện diện tại 54/63 tỉnh, thành phố. Ở chiều ngược lại, Việt Nam đầu tư sang Nhật Bản 61 dự án với tổng vốn đăng ký 19,7 triệu USD (chiếm hơn 5,2% số dự án và dưới 1% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam), đứng thứ 32 trong số 57 quốc gia tiếp nhận đầu tư của Việt Nam.
  • Viện trợ phát triển chính thức (ODA): Nhật Bản là nhà tài trợ ODA lớn nhất của Việt Nam. Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, Nhật Bản viện trợ khoảng 27.800 triệu USD (vốn vay 26.000 triệu USD, không hoàn lại 1.800 triệu USD), chiếm trên 30% tổng ODA quốc tế cam kết cho Việt Nam. Theo thống kê báo cáo thường niên của JICA (2003 - 2018), Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam 1.549.951 triệu Yên qua JICA, chiếm 37,1% tổng viện trợ 4.167.905 triệu Yên cho khu vực Đông Nam Á. Theo Bộ Ngoại giao Nhật Bản (tính đến hết 2017), vốn cam kết đạt hơn 22.124 triệu USD và giải ngân hơn 18.169 triệu USD.
Chỉ tiêu kinh tế (2002 - 2018) Số liệu tổng hợp trong luận án
Tổng kim ngạch thương mại 2 chiều 323.661 triệu USD (tăng từ 4.940 triệu USD năm 2002 lên ~38.000 triệu USD năm 2018)
Xuất khẩu của Nhật Bản sang Việt Nam 159.671 triệu USD
Nhập khẩu của Nhật Bản từ Việt Nam 163.990 triệu USD (Việt Nam xuất siêu 4.319 triệu USD)
FDI Nhật Bản vào Việt Nam (lũy kế 31/12/2018) 4.007 dự án (14,6%); 57.372 triệu USD (18,8% tổng FDI); xếp thứ 2/135 đối tác
FDI Việt Nam sang Nhật Bản (lũy kế 31/12/2018) 61 dự án (5,2%); 19,7 triệu USD (<1% vốn ra nước ngoài); xếp thứ 32/57 đối tác
Tổng ODA Nhật Bản cho Việt Nam (Bộ Ngoại giao VN) ~27.800 triệu USD (Vốn vay: 26.000 triệu USD; Không hoàn lại: 1.800 triệu USD; >30% ODA vào VN)
Viện trợ qua JICA (2003 - 2018) 1.549.951 triệu Yên (chiếm 37,1% tổng ODA Nhật Bản cho Đông Nam Á)
ODA theo Bộ Ngoại giao Nhật Bản (lũy kế 2017) Đăng ký: >22.124 triệu USD; Giải ngân: >18.169 triệu USD

3. Lĩnh vực an ninh - quốc phòng

Hợp tác an ninh - quốc phòng song phương khởi động từ năm 2007 và đẩy mạnh sau Bản Ghi nhớ năm 2011:

  • Duy trì cơ chế Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng hàng năm (từ 2012).
  • Duy trì cơ chế Đối thoại An ninh chiến lược cấp Thứ trưởng (từ 2013).
  • Tổ chức thường niên Hội nghị Đảm bảo An ninh trên biển (từ tháng 5/2013).
  • Tháng 7/2014, Nhật Bản công bố gói hỗ trợ phát triển cung cấp 6 tàu tuần tra đã qua sử dụng cho các cơ quan chấp pháp biển Việt Nam.
  • Tăng cường các đoàn trao đổi, giao lưu giữa Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản với Hải quân Nhân dân Việt Nam và Cảnh sát Biển Việt Nam.

4. Hợp tác đa phương

Hai nước duy trì sự ủng hộ và phối hợp chặt chẽ tại các tổ chức, diễn đàn quốc tế:

  • Nhật Bản ủng hộ Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009), gia nhập WTO, hoàn thành Năm Chủ tịch ASEAN 2010 và mời Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng (2016).
  • Việt Nam ủng hộ Nhật Bản trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ khi cải tổ, ủng hộ Nhật Bản làm Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ (nhiệm kỳ 2009 - 2010 và 2016 - 2017), đồng thời ủng hộ vai trò của Nhật Bản tại Đông Nam Á.
  • Phối hợp tích cực tại các diễn đàn đa phương: UN, APEC, ASEM, EAS, ASEAN+3, ADMM+, ARF, CPTPP, RCEP.

Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018

Chương 4 đúc kết các đánh giá khoa học về thực trạng và triển vọng quan hệ hai nước:

  • Những kết quả đạt được: Khuôn khổ chính trị không ngừng nâng cấp; thương mại tăng trưởng cân bằng; FDI bùng nổ; ODA giữ vị trí số một; hợp tác quốc phòng đi vào thực chất; sự tin cậy chiến lược được củng cố.
  • Những hạn chế tồn tại:
    • Chính trị: Việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược còn diễn ra chậm hơn so với một số đối tác lớn khác của Việt Nam.
    • Kinh tế: Mất cân đối lớn trong dòng vốn đầu tư và viện trợ (tính chất một chiều từ Nhật Bản); tỷ trọng hàng hóa Việt Nam trong tổng ngoại thương Nhật Bản còn thấp; cơ cấu sản phẩm xuất khẩu còn bất cập; vướng mắc trong giải ngân và sử dụng ODA.
    • An ninh - quốc phòng: Hợp tác triển khai muộn; bị giới hạn bởi năng lực nội tại và chịu sự chi phối nhất định từ nhân tố nước lớn.
  • Bốn đặc điểm nổi bật:
    1. Quan hệ phát triển liên tục, không bị gián đoạn, vận động theo hướng tích cực từ thấp đến cao.
    2. Đây là mối quan hệ mang tính "bất cân xứng" về quy mô và trình độ phát triển nhưng cơ hội lớn hơn thách thức, hợp tác vượt trội cạnh tranh do có sự song trùng lợi ích chiến lược.
    3. Mối quan hệ ít chịu tác động tiêu cực trực tiếp từ nhân tố nước lớn so với các cặp quan hệ Mỹ - Việt Nam hay Trung Quốc - Việt Nam.
    4. Mức độ gắn kết và tính thực chất của quan hệ "Đối tác chiến lược sâu rộng" Nhật - Việt sâu sắc hơn một số khuôn khổ "Đối tác chiến lược toàn diện" khác của Việt Nam.
  • Tác động của mối quan hệ:
    • Đối với Nhật Bản: Hiện thực hóa chiến lược "Hướng về châu Á", mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á và ASEAN, hỗ trợ tái cấu trúc kinh tế và đa dạng hóa thị trường đầu tư.
    • Đối với Việt Nam: Hiện thực hóa chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và cân bằng quan hệ nước lớn; tận dụng nguồn vốn, công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo.
    • Đối với khu vực: Góp phần củng cố hòa bình, ổn định, thúc đẩy liên kết kinh tế Đông Á và thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.
  • Các vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách: Luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện; hoàn thiện môi trường đầu tư; khắc phục tính một chiều trong kinh tế; nâng cấp đối thoại quốc phòng lên cấp Bộ trưởng; và đặc biệt đề xuất nguyên tắc kết hợp chính sách quốc phòng "Bốn không" với bài học "Bốn cần" và "Bốn tránh".

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên tái hiện một cách toàn diện, có hệ thống bức tranh lịch sử quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trong trọn vẹn 16 năm (2002 - 2018) trên ba trụ cột chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng dưới góc độ Sử học.
  • Công trình phân tích sâu sắc mối quan hệ từ chủ thể tác động là Nhật Bản qua lăng kính nghiên cứu của học giả Việt Nam; làm sáng tỏ tính chất "bất cân xứng nhưng song trùng lợi ích", cung cấp cơ sở lý luận về quan hệ giữa một nước đang phát triển với một cường quốc kinh tế trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học, cứ liệu lịch sử và số liệu thống kê chuẩn xác cho các cơ quan Đảng, Nhà nước và Bộ Ngoại giao trong việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại với Nhật Bản.
  • Đóng góp tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử thế giới hiện đại, lịch sử quan hệ quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Khu vực học và Ngoại giao học tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hệ thống hàm ý chính sách và kiến nghị của tác giả

  1. Chính trị - ngoại giao:
    • Song phương: Tuân thủ nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị và không can thiệp nội bộ; xây dựng lộ trình nâng cấp quan hệ lên "Đối tác chiến lược toàn diện"; tăng cường tiếp xúc cấp cao, ngoại giao kênh Đảng, Quốc hội, địa phương và Hoàng gia Nhật Bản.
    • Đa phương: Tích cực phối hợp và ủng hộ Nhật Bản trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ khi mở rộng; cùng tham gia kiến tạo các sáng kiến khu vực.
  2. Kinh tế:
    • Vĩ mô: Khai thác tính bổ sung của hai nền kinh tế; thúc đẩy sử dụng đồng nội tệ trong thanh toán thương mại, đầu tư; cải cách thể chế kinh tế trong nước để hấp thu hiệu quả vốn FDI và ODA chất lượng cao.
    • Vi mô: Tận dụng tối đa các cam kết VJEPA, AJCEP; duy trì cơ chế Sáng kiến chung Nhật - Việt; giải quyết tình trạng đầu tư và ODA một chiều; kiểm soát chặt chẽ các vấn đề chuyển giao công nghệ và máy móc thiết bị cũ.
  3. An ninh - quốc phòng:
    • Nâng cấp cơ chế Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng lên cấp Bộ trưởng Quốc phòng.
    • Triển khai hiệu quả Tuyên bố Tầm nhìn chung năm 2018, các văn kiện năm 2021 về chuyển giao trang bị - công nghệ quốc phòng, an ninh mạng và quân y.
    • Tranh thủ sự hỗ trợ của Nhật Bản trong đào tạo nhân lực, tiếp nhận tàu tuần tra và trang thiết bị thực thi pháp luật trên biển.
    • Phối hợp lập trường giải quyết tranh chấp biển đảo trên cơ sở luật pháp quốc tế (UNCLOS 1982).
  4. Bài học đối ngoại "Bốn cần" và "Bốn tránh" (kết hợp với chính sách "Bốn không"):
    • Bốn cần: (i) Cần tiếp tục duy trì sự tin cậy cao về chính trị; (ii) Cần tiếp tục ủng hộ Nhật Bản trở thành Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc khi cơ quan này cải tổ và mở rộng; (iii) Cần triệt để khai thác lợi thế trong hợp tác kinh tế; (iv) Cần tranh thủ tối đa nguồn vốn ODA và hỗ trợ về quốc phòng của Nhật Bản.
    • Bốn tránh: (i) Tránh làm mất thể diện nước lớn của Nhật Bản; (ii) Tránh lý do để quan hệ hợp tác với Việt Nam mà buộc Nhật Bản phải lựa chọn hoặc Việt Nam hoặc một nước khác; (iii) Tránh tình trạng quan hệ hợp tác một chiều; (iv) Tránh để bị lôi kéo vào các tập hợp lực lượng phục vụ cho lợi ích và mưu đồ của Nhật Bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình: Do giới hạn về mặt thời gian lịch sử nghiên cứu (dừng lại ở mốc 2018) và mức độ tiếp cận các hồ sơ ngoại giao mật, các diễn biến hợp tác quốc phòng sâu và các hiệp định sau năm 2018 chưa được phân tích chi tiết trong toàn văn luận án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu giai đoạn từ năm 2019 đến nay, đặc biệt là giai đoạn hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973 - 2023) và tiến trình nâng cấp lên quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện".
    • Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các hiệp định kinh tế thế hệ mới (CPTPP, RCEP) và các chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch đến quan hệ kinh tế song phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm thông qua mô hình "Bốn cần - Bốn tránh", giúp tối ưu hóa lợi ích quốc gia trong quan hệ với Nhật Bản và xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn.
  • Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác, hệ thống số liệu kinh tế và ngoại giao chi tiết giai đoạn 2002 - 2018 phục vụ giảng dạy, nghiên cứu các chuyên đề về Lịch sử Quan hệ quốc tế, Chính sách đối ngoại của Nhật Bản, Chính sách đối ngoại của Việt Nam và Khu vực học Đông Á.
  • Đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về môi trường hợp tác kinh tế, cơ cấu thương mại và chính sách ODA của Nhật Bản tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Khuôn khổ pháp lý chính trị giữa Nhật Bản và Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2018 được nâng cấp qua những mốc thời gian nào?

Khuôn khổ quan hệ chính trị song phương được nâng cấp qua 3 dấu mốc chính:

  1. Tháng 4/2002: Thiết lập khuôn khổ "Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài" nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Koizumi.
  2. Tháng 4/2009: Nâng cấp lên "Quan hệ đối tác chiến lược" vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á nhân chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh.
  3. Tháng 3/2014: Nâng cấp và mở rộng nội hàm thành "Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á" nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Nhật Bản của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

2. Quy mô hợp tác thương mại, đầu tư FDI và viện trợ ODA giữa hai nước đạt được những con số cụ thể nào tính đến hết năm 2018?

  • Thương mại: Tổng kim ngạch hai chiều giai đoạn 2002 - 2018 đạt 323.661 triệu USD. Kim ngạch tăng gần 8 lần từ 4.940 triệu USD (2002) lên gần 38.000 triệu USD (2018). Việt Nam xuất siêu sang Nhật Bản 4.319 triệu USD trong cả giai đoạn.
  • Đầu tư FDI: Tính đến 31/12/2018, Nhật Bản có 4.007 dự án FDI tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 57.372 triệu USD (chiếm 18,8% tổng vốn FDI, đứng thứ 2/135 quốc gia/vùng lãnh thổ). Việt Nam có 61 dự án tại Nhật Bản với tổng vốn 19,7 triệu USD.
  • Viện trợ ODA: Nhật Bản viện trợ khoảng 27.800 triệu USD cho Việt Nam (vốn vay: 26.000 triệu USD, không hoàn lại: 1.800 triệu USD), chiếm trên 30% tổng nguồn ODA quốc tế của Việt Nam. Thống kê JICA ghi nhận 1.549.951 triệu Yên viện trợ cho Việt Nam (chiếm 37,1% tổng viện trợ của Nhật Bản cho Đông Nam Á giai đoạn 2003 - 2018).

3. Hợp tác an ninh - quốc phòng song phương được khởi động và triển khai qua những cơ chế nào?

Hợp tác an ninh - quốc phòng song phương chính thức được khởi động từ năm 2007 và đẩy mạnh sau khi ký Bản Ghi nhớ về Hợp tác và Trao đổi quốc phòng song phương năm 2011. Các cơ chế hợp tác định kỳ gồm: Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng (hàng năm từ 2012), Đối thoại An ninh chiến lược cấp Thứ trưởng (từ 2013), Hội nghị Đảm bảo An ninh trên biển (từ tháng 5/2013). Đáng chú ý, tháng 7/2014, Nhật Bản công bố cung cấp 6 tàu tuần tra đã qua sử dụng cho lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam và hai bên ký Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng vào năm 2018.

4. Nội dung của bài học đối ngoại "Bốn cần" và "Bốn tránh" do tác giả luận án đề xuất là gì?

Nhằm bổ trợ cho chính sách quốc phòng "Bốn không", tác giả đề xuất:

  • Bốn cần: Duy trì sự tin cậy cao về chính trị; tiếp tục ủng hộ Nhật Bản trở thành Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ khi cơ quan này mở rộng; triệt để khai thác lợi thế trong hợp tác kinh tế; tranh thủ tối đa nguồn vốn ODA và hỗ trợ quốc phòng từ Nhật Bản.
  • Bốn tránh: Tránh làm mất thể diện nước lớn của Nhật Bản; tránh lý do để quan hệ hợp tác với Việt Nam mà buộc Nhật Bản phải lựa chọn phe hoặc lựa chọn giữa Việt Nam và nước khác; tránh tình trạng quan hệ hợp tác một chiều; tránh để bị lôi kéo vào các tập hợp lực lượng phục vụ cho lợi ích riêng của Nhật Bản.

5. Tác giả luận án đúc kết những đặc điểm chủ yếu nào của quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018?

Tác giả đúc kết 4 đặc điểm: (1) Quan hệ phát triển liên tục, tích cực và không bị gián đoạn; (2) Là mối quan hệ "bất cân xứng" nhưng cơ hội lớn hơn thách thức do có sự song trùng lợi ích; (3) Ít chịu tác động tiêu cực trực tiếp từ nhân tố nước lớn so với các mối quan hệ song phương khác của Việt Nam; (4) Mức độ toàn diện và thực chất của quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Nhật - Việt sâu sắc hơn một số đối tác chiến lược toàn diện khác của Việt Nam.


Kết luận

Luận án Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018 của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tuấn là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Thế giới phản ánh toàn diện tiến trình 16 năm vận động của mối quan hệ song phương trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng. Thông qua việc phân tích hệ thống tư liệu gốc phong phú, công trình làm sáng tỏ những thành tựu vượt bậc, chỉ ra những hạn chế về mặt cơ cấu và đúc kết các đặc điểm vận động mang tính quy luật của mối quan hệ bất cân xứng nhưng có sự song trùng lợi ích. Các kết quả nghiên cứu và đề xuất chính sách trong luận án, đặc biệt là hệ thống khuyến nghị "Bốn cần - Bốn tránh", mang lại giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho việc tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia trong các giai đoạn tiếp theo.