CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở trong nước Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Việt Nam. Tiêu biểu như: Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI (Nguyễn Xuân Sơn và Nguyễn Văn Du; 2006); Chính sách đối ngoại của các nước lớn trong giai đoạn hiện nay (Nguyễn Thị Quế; 2015); Chính sách của Nhật Bản đối với ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI (Ngô Phương Anh; 2020); Cục diện thế giới đến năm 2020 (2010), Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020 (2010) và Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới (2011) của Phạm Bình Minh; Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới (Nguyễn Hoàng Giáp và Nguyễn Thị Quế; 2013); Quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Tiểu vùng sông Mekong từ sau Chiến tranh lạnh đến nay (Huỳnh Phương Anh; 2017) và một số bài viết khác. Nhìn chung, các công trình nói trên mới chỉ phản ánh được một phần nào nội dung liên quan đến CSĐN của Nhật Bản và Việt Nam cũng như mối quan hệ Nhật - Việt.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về quan hệ Nhật - Việt. Tiêu biểu là: Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai (Ngô Xuân Bình và Trần Quang Minh; 2005); Xây dựng đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản: Nội dung và lộ trình (Trần Quang Minh và Phạm Quý Long; 2011); 40 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Thành quả và triển vọng (Nguyễn Tiến Lực; 2014); Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh (Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Tất Giáp; 2013); Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: 45 năm nhìn lại và hướng tới tương lai (Trần Quang Minh’ 2019); Hiệp định đối tác toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) (2011) và Tận dụng ưu đãi trong Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (2016) của Bộ Công thương; Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam (Đinh Trung Thành; 2010)… đã góp phần làm rõ những nét cơ bản về lịch sử quan hệ cũng như những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, viện trợ ODA… cũng như hội nhập kinh tế quốc tế của hai quốc gia. Đặc biệt, một số tác giả đã đưa ra các ý kiến mang tính kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa quan hệ kinh tế giữa hai nước trong thời gian đến. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan hệ Nhật - Việt.
Với một số công trình tiêu biểu như: Japan’s Foreign Policy, 1945 - 2009: The Quest for a Proactive Policy (Kazuhiko Togo; 2010); Japan’s International Relations: Politics, economics and security (Glenn D. Hook, Julie Gilson, Christopher Hughes và Hugo Dobson; 2011); Ngoại giao Nhật Bản - Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hóa (2012) và Ngoại giao Nhật Bản từ Minh Trị Duy Tân đến hiện đại (2013) của Irie Akira; Japan’s Foreign Relations in Asia (James D. Brown và Jeff Kingston; 2017); luận án “Vietnam’s Foreign Policy in the Post - Cost war Era: Ideology and Reality” (Lương Ngọc Thanh; 2013); Những bài học về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản (Kimura Hiroshi, Furuta Motoo và Nguyễn Duy Dũng; 2005)… Điểm chung và nổi bật của các công trình nghiên cứu về CSĐN của Nhật Bản, Việt Nam và quan hệ hai nước của các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài, người Nhật và người Việt Nam ở nước ngoài là cách tiếp cận liên ngành, khai thác nguồn tư liệu đa dạng và phong phú, có tính khái quát cao, nội dung ít nhiều đã đề cập đến quan hệ Nhật - Việt trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trên một số lĩnh vực cụ thể.
Về CT - NG, có「日本にとってのベ トナムの重要性」(2020) của 梅田邦夫; “日本とベトナムのパート ナーシップこれまで、そしてこれから” (2013) của JICA. Về kinh tế, có “ベトナムの日本食品市場, 水産物・果物の輸入販売状況に ついて” (2018) của 神谷 靖子. Về AN - QP có New Directions in Japan’s Security Non - U. Centric Evolution (2020) của Paul Midford và Wilhelm Vosse; Khả năng và những vấn đề trong hợp tác phòng vệ Việt Nam - Nhật Bản của Toshiharu Tsuboi (2014); “海自が存在感、 中国を牽制 P3C派遣しベトナム海軍と合同訓練” (2016) của 産経… Tóm lại, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các công trình nói trên đã có những đóng góp nhất định như: Nêu được một số cơ sở lịch sử của mối quan hệ Nhật - Việt, phân tích được một số khía cạnh liên quan đến CSĐN của Nhật Bản, Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử, quan hệ Nhật - Việt trên một số lĩnh vực chủ yếu như CT - NG, kinh tế và AN - QP… Tuy nhiên, với tư cách là một công trình khoa học độc lập, mang tính chất tổng thể, toàn diện và có hệ thống về quan hệ Nhật - Việt xuyên suốt trong khoảng thời gian nghiên cứu của luận án (2002 - 2018) trên phương diện quan hệ song phương, thì các công trình của các học giả Việt Nam và nước ngoài chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu này.
Mặc dù vậy, những công trình trên vừa là cơ sở, vừa là nguồn tài liệu tham khảo quý giá và hữu ích trong việc nghiên cứu đề tài. Nhận xét về các kết quả nghiên cứu Nhìn lại tình hình nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài luận án, có thể rút ra một số nhận xét về kết quả nghiên cứu như sau: Thứ nhất, số lượng công trình, bài viết nghiên cứu về CSĐN của Nhật Bản và Việt Nam cũng như mối quan hệ Nhật - Việt nói chung, quan hệ hai nước từ năm 2002 đến năm 2018 nói riêng khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tiến trình vận động, phát triển và bản chất của mối quan hệ Nhật - Việt và từ chủ thể quan hệ là Nhật Bản trong giai đoạn 2002 - 2018. Trong khả năng tiếp cận các tài liệu tham khảo và tư liệu như trên, chúng tôi nhận thấy đề tài luận án “Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018” không trùng lặp với các công trình đi trước.
Thứ hai, đa số các công trình chủ yếu đề cập đến mối quan hệ chung hoặc nghiên cứu quan hệ Nhật - Việt trên một lĩnh vực cụ thể như CT - NG, kinh tế và AN - QP, văn hóa - xã hội… và thường giới hạn trong một khung thời gian nhất định không trùng với giai đoạn nghiên cứu 2002 - 2018 của đề tài. Thứ ba, còn khá nhiều vấn đề trong quan hệ Nhật - Việt giai đoạn 2002 - 2018 cần được nghiên cứu, luận giải sâu hơn, đáp ứng yêu cầu về lý luận và thực tiễn khi nhìn nhận, đánh giá về mối quan hệ này. Bên cạnh đó, do tồn tại những quan điểm khác nhau do bị chi phối bởi nhiều yếu tố như ý thức hệ, quan điểm… cần tiếp tục có sự phân tích, đánh giá, trao đổi của những nghiên cứu tiếp theo, trong đó có tác giả luận án này, để đảm bảo tính khách quan, khoa học khi nhìn nhận các vấn đề, sự kiện của mối quan hệ. Mặc dù vậy, các công trình, bài viết nói trên là nguồn tài liệu tham khảo rất quý giá, là cơ sở quan trọng để tác giả luận án tiếp tục đưa ra các ý tưởng, quan điểm khoa học, cấu trúc nội dung cũng như lựa chọn cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Nhất là từ việc kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu đi trước, đồng thời bổ sung nguồn tư liệu mới, luận án sẽ nghiên cứu hệ thống, toàn diện và làm rõ tiến trình vận động, phát triển của quan hệ Nhật - Việt trên các lĩnh vực CT - NG, kinh tế và AN - QP. Tác giả luận án hy vọng sẽ đóng góp một hướng nghiên cứu khách quan, khoa học về quan hệ Nhật - Việt từ năm 2002 đến năm 2018 dưới góc độ Sử học. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ VÀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NHẬT BẢN - VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002 - 2018 2. Những cơ sở lịch sử, văn hóa Thứ nhất, quan hệ Nhật - Việt giai đoạn 2002 - 2018 phát triển trên cơ sở sự gần gũi về vị trí địa lý, một số điểm giống nhau về điều kiện tự nhiên, các mối liên hệ trong lịch sử và những nét tương đồng về văn hóa, tôn giáo - tín ngưỡng, phong tục.
cùng lịch sử mối quan hệ giao lưu đã được xác lập từ khá sớm. Thứ hai, những thành quả quan trọng trong quan hệ Nhật - Việt giai đoạn 1973 - 2001 trở thành cơ sở lịch sử quan trọng, là nền tảng vững chắc và cú hích cho sự phát triển và mở rộng quan hệ Nhật - Việt giai đoạn 2002 - 2018 và các giai đoạn tiếp theo. Những nhân tố tác động Thứ nhất, bối cảnh quốc tế và khu vực như: Cục diện thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra ngày càng nhanh hơn; tính chất, nội dung và phương thức tập hợp lực lượng trong QHQT có sự thay đổi căn bản; cách mạng khoa học, công nghệ và toàn cầu hóa ngày càng phát triển; môi trường chính trị và an ninh quốc tế có những diễn biến phức tạp. Ở khu vực Đông Á, các quốc gia vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trong cùng tồn tại hòa bình và phát triển; là nơi đan xen lợi ích, điều chỉnh và cạnh tranh ảnh hưởng cùng mối quan hệ phức tạp giữa các nước lớn; cấu trúc của khu vực Đông Á đã định hình tương đối; là khu vực có sự hợp tác, liên kết và hội nhập đồng thời với cạnh tranh diễn ra sôi động và quyết liệt với nhiều tầng nấc khác nhau; những thách thức tiền ẩn và những khác biệt giữa một số nước ở khu vực tiếp tục nổi lên… Thứ hai, nhân tố nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và sự điều chỉnh chiến lược của các này đối với khu vực cùng sự tăng cường quan hệ với Việt Nam đã có những tác động nhất định đến Nhật Bản và Việt Nam cũng như mối quan hệ Nhật - Việt.
Bối cảnh quốc tế, khu vực và nhân tố nước lớn là những nhân tố khách quan, có tác động quan trọng đến quan hệ Nhật - Việt giai đoạn 2002 - 2018. Thứ ba, vị trí của Nhật Bản và Việt Nam trong CSĐN của mỗi nước.