Tổng quan luận án
Quan hệ quốc tế giữa Nhật Bản và Việt Nam là một trong những đối tác song phương nổi bật tại khu vực châu Á. Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21 tháng 9 năm 1973 và trải qua giai đoạn trầm lắng do các tác động địa chính trị của Chiến tranh Lạnh cùng “vấn đề Campuchia”, mối quan hệ giữa hai nước đã phục hồi và phát triển rõ nét từ đầu thế kỷ XXI. Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài “Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018” do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tuấn thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Văn Hiển, chuyên ngành Lịch sử Thế giới (mã số: 9229011), nhằm tái hiện và luận giải một cách hệ thống tiến trình vận động của mối quan hệ này.
Theo tác giả, tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ việc quan hệ giữa hai nước từ năm 2002 đến năm 2018 đã có những bước chuyển biến căn bản về chất lượng, thể hiện qua các khuôn khổ từ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài” (2002) lên “Đối tác chiến lược” (2009) và “Đối tác chiến lược sâu rộng” (2014). Mặc dù vậy, quan hệ song phương vẫn tồn tại những hạn chế và sự bất cân xứng nhất định cần được tổng kết để cung cấp luận cứ khoa học cho công tác đối ngoại. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình sử học độc lập, nghiên cứu toàn diện và có hệ thống tiến trình vận động, bản chất mối quan hệ trong trọn vẹn khung thời gian 2002 - 2018, tiếp cận từ góc độ chủ thể quan hệ là Nhật Bản qua lăng kính của nhà nghiên cứu Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ tiến trình vận động và phát triển của quan hệ Nhật Bản - Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2018 trên ba lĩnh vực trọng yếu: chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng; trên cơ sở đó làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế, rút ra các đặc điểm, tác động, những vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Làm rõ những cơ sở và nhân tố mới tác động đến quan hệ Nhật Bản - Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2018.
- Trình bày một cách hệ thống quá trình vận động và phát triển của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng từ năm 2002 đến năm 2018.
- Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế, rút ra những đặc điểm, phân tích những tác động của mối quan hệ này đối với mỗi nước và khu vực; làm rõ những vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách cho Việt Nam trong quan hệ hợp tác với Nhật Bản.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào quá trình vận động và phát triển của mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế và an ninh - quốc phòng. Về phạm vi nghiên cứu, không gian nghiên cứu tập trung vào quan hệ song phương giữa hai chủ thể Nhật Bản và Việt Nam trong bối cảnh khu vực châu Á; thời gian nghiên cứu giới hạn trong khoảng thời gian 16 năm, từ năm 2002 (mốc thiết lập khuôn khổ đối tác tin cậy) đến năm 2018 (mốc kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao và tổng kết Tầm nhìn chung về quốc phòng); nội dung tập trung vào ba trụ cột nêu trên kết hợp với sự phối hợp trên các diễn đàn đa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành hai nhóm chính gồm các công trình nghiên cứu trong nước và các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
Nhóm nghiên cứu trong nước được tác giả phân định thành hai nhánh nội dung:
- Nhánh nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Việt Nam: Tiêu biểu có các công trình của Nguyễn Xuân Sơn và Nguyễn Văn Du (2006) về Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI; Nguyễn Thị Quế (2015) về Chính sách đối ngoại của các nước lớn trong giai đoạn hiện nay; Ngô Phương Anh (2020) khảo sát Chính sách của Nhật Bản đối với ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI; các ấn phẩm của Phạm Bình Minh gồm Cục diện thế giới đến năm 2020 (2010), Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020 (2010) và Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới (2011); công trình của Nguyễn Hoàng Giáp và Nguyễn Thị Quế (2013) về Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới; cùng công trình của Huỳnh Phương Anh (2017) về Quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Tiểu vùng sông Mekong từ sau Chiến tranh lạnh đến nay.
- Nhánh nghiên cứu trực tiếp về quan hệ Nhật Bản - Việt Nam: Bao gồm các sách chuyên khảo như Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai của Ngô Xuân Bình và Trần Quang Minh (2005); Xây dựng đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản: Nội dung và lộ trình của Trần Quang Minh và Phạm Quý Long (2011); 40 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Thành quả và triển vọng do Nguyễn Tiến Lực chủ biên (2014); Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh của Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Tất Giáp (2013); Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: 45 năm nhìn lại và hướng tới tương lai của Trần Quang Minh (2019); các tài liệu phân tích hiệp định của Bộ Công thương (2011, 2016) liên quan đến AJCEP và VJEPA; và nghiên cứu của Đinh Trung Thành (2010) về đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản vào Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu ở nước ngoài cũng được chia thành hai nhánh:
- Các công trình tổng quát về quan hệ đối ngoại và quan hệ Nhật - Việt: Điển hình là công trình Japan’s Foreign Policy, 1945 - 2009: The Quest for a Proactive Policy của Kazuhiko Togo (2010); Japan’s International Relations: Politics, economics and security của Glenn D. Hook, Julie Gilson, Christopher Hughes và Hugo Dobson (2011); các sách của Irie Akira gồm Ngoại giao Nhật Bản - Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hóa (2012) và Ngoại giao Nhật Bản từ Minh Trị Duy Tân đến hiện đại (2013); ấn phẩm Japan’s Foreign Relations in Asia của James D. Brown và Jeff Kingston (2017); luận án tiến sĩ của Lương Ngọc Thanh (2013) mang tên Vietnam’s Foreign Policy in the Post - Cold War Era: Ideology and Reality; cùng nghiên cứu Những bài học về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản của Kimura Hiroshi, Furuta Motoo và Nguyễn Duy Dũng (2005).
- Các nghiên cứu chuyên sâu theo từng lĩnh vực: Về chính trị - ngoại giao có bài viết của Umeda Kunio (2020) và báo cáo của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA, 2013); về kinh tế có nghiên cứu của Kamiya Yasuko (2018) về thị trường nông thủy sản Nhật Bản tại Việt Nam; về an ninh - quốc phòng có chuyên khảo của Paul Midford và Wilhelm Vosse (2020), nghiên cứu của Toshiharu Tsuboi (2014) về triển vọng hợp tác phòng vệ Nhật - Việt, cùng các bài phân tích hoạt động huấn luyện quân sự chung của báo Sankei (2016).
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các nghiên cứu đi trước chỉ tiếp cận quan hệ hai nước theo từng lát cắt thời gian ngắn, hoặc đi sâu vào một lĩnh vực đơn lẻ (kinh tế, ngoại giao hoặc văn hóa), hoặc nhìn nhận từ góc độ chính sách chung của Việt Nam. Chưa có công trình sử học độc lập nào khảo sát toàn bộ tiến trình 16 năm (2002 - 2018) một cách đồng bộ trên cả ba trục chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, đồng thời đánh giá mối quan hệ song phương gắn liền với chủ thể đối ngoại Nhật Bản dưới cái nhìn khoa học lịch sử của giới nghiên cứu Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, luận án dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về hội nhập quốc tế và hợp tác song phương.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, là một công trình chuyên ngành Lịch sử Thế giới, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm mạch dẫn chủ đạo xuyên suốt. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện tuần tự và trung thực tiến trình quan hệ, các sự kiện ngoại giao, các văn kiện ký kết và các mốc chuyển biến trong giai đoạn 2002 - 2018. Phương pháp logic cho phép phân tích bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ nhân quả giữa bối cảnh quốc tế với sự chuyển dịch chính sách của mỗi nước. Bên cạnh đó, luận án kết hợp các phương pháp liên ngành như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phân tích, tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp chuyên gia và dự báo khoa học để đưa ra các hàm ý chính sách.
Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án được khai thác từ hai nhóm dữ liệu:
- Nguồn tư liệu gốc: Các văn kiện ngoại giao của Nhật Bản (các học thuyết ngoại giao của các đời Thủ tướng, Sách Xanh Ngoại giao thường niên của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, báo cáo thống kê của JICA, JETRO về ODA, FDI và thương mại); các văn bản pháp quy và ngoại giao của Việt Nam (Văn kiện Đại hội Đảng, phát biểu của lãnh đạo cấp cao, Sách Xanh Ngoại giao của Bộ Ngoại giao Việt Nam, báo cáo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương); hệ thống các văn kiện, hiệp định, tuyên bố chung và thỏa thuận song phương được ký kết giữa hai chính phủ trong giai đoạn 2002 - 2018.
- Nguồn tư liệu thứ cấp: Các sách chuyên khảo, đề tài khoa học, bài báo nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế, kinh tế thế giới trong và ngoài nước, cùng hệ thống dữ liệu từ các trang thông tin điện tử chính thức có uy tín.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này dành toàn bộ dung lượng để hệ thống hóa, phân loại và nhận xét các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở cả trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng mặc dù số lượng công trình về chính sách đối ngoại của hai nước khá phong phú, nhưng việc nghiên cứu quan hệ song phương Nhật - Việt trong giai đoạn 2002 - 2018 dưới góc nhìn lịch sử toàn diện vẫn còn khoảng trống. Các nghiên cứu trước đây đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo nền tảng, cung cấp các gợi mở lý luận và tư liệu thực chứng để tác giả xây dựng khung nội dung nghiên cứu cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở và nhân tố tác động đến quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018
Chương 2 luận giải các nền tảng hình thành và các động lực thúc đẩy quan hệ song phương:
- Cơ sở lịch sử, văn hóa: Quan hệ hai nước xây dựng trên nền tảng địa lý cùng thuộc châu Á, có những tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, tín ngưỡng, phong tục và mối giao lưu kinh tế - văn hóa từ sớm (như thời kỳ thuyền Châu Ấn và đô thị cổ Hội An). Thêm vào đó, những thành tựu ngoại giao đạt được trong giai đoạn 1973 - 2001 đã trở thành tiền đề lịch sử trực tiếp cho giai đoạn 2002 - 2018.
- Các nhân tố tác động:
- Nhân tố quốc tế và khu vực: Xu thế đa cực, đa trung tâm gia tăng; sự biến đổi trong phương thức tập hợp lực lượng quốc tế; quá trình toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ; sự định hình cấu trúc an ninh - kinh tế tại khu vực Đông Á với các tầng nấc hợp tác đan xen cạnh tranh.
- Nhân tố nước lớn: Sự điều chỉnh chiến lược của các cường quốc như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương tác động trực tiếp đến môi trường an ninh và chính sách đối ngoại của cả Tokyo lẫn Hà Nội.
- Vị trí của nhau trong chính sách đối ngoại: Đây là nhân tố chủ quan có tính quyết định. Nhật Bản coi trọng vị trí địa - chiến lược của Việt Nam tại Đông Nam Á trong chiến lược hướng về châu Á; ngược lại, Việt Nam xác định Nhật Bản là đối tác kinh tế, chính trị hàng đầu trong đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa.
Chương 3: Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trên các lĩnh vực chủ yếu (2002 - 2018)
Đây là chương trọng tâm của luận án, trình bày thực trạng quan hệ song phương trên các phương diện chính:
Khung pháp lý của quan hệ song phương: Giai đoạn 2002 - 2018 chứng kiến việc ký kết các văn kiện mang tính bước ngoặt, bao gồm: Tuyên bố chung thiết lập quan hệ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài” (4/2002); Tuyên bố chung nâng cấp lên “Quan hệ đối tác chiến lược” (4/2009); Tuyên bố chung nâng cấp lên “Quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” (3/2014). Cùng với đó là các hiệp định kinh tế - an ninh: Sáng kiến chung Nhật - Việt (4/2003), Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư (12/2004), Hiệp định Thương mại tự do Nhật - Việt (2006), Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA, 2008), Chương trình Hỗ trợ quốc gia cho Việt Nam (7/2009), Bản Ghi nhớ về Hợp tác và Trao đổi quốc phòng song phương (2011), và Tuyên bố Tầm nhìn chung về Hợp tác quốc phòng hướng tới thập niên tiếp theo (2018).
Lĩnh vực chính trị - ngoại giao: Hai nước đã duy trì khoảng 33 chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao. Các chuyến thăm tiêu biểu từ phía Nhật Bản gồm: Thủ tướng Junichiro Koizumi (2002), Thủ tướng Shinzo Abe (2013) và chuyến thăm lịch sử của Nhật hoàng Akihito cùng Hoàng hậu (2017). Về phía Việt Nam gồm có chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2007), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (2009) và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (2014).
Lĩnh vực kinh tế: Được xác định là điểm sáng lớn nhất trong quan hệ hai nước. Dữ liệu kinh tế được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
| Chỉ số kinh tế |
Năm 2002 / Giai đoạn đầu |
Năm 2018 / Lũy kế giai đoạn 2002 - 2018 |
Ghi chú và thứ hạng |
| Kim ngạch thương mại hai chiều |
Hơn 4.940 triệu USD (2002) |
Gần 38.000 triệu USD (2018) |
Tăng gần 8 lần; tổng cả giai đoạn đạt 323.661 triệu USD |
| Cán cân thương mại |
Cân bằng tương đối |
Việt Nam xuất siêu 4.319 triệu USD |
Nhật xuất sang VN: 159.671 triệu USD; Nhật nhập từ VN: 163.990 triệu USD (9 năm Nhật xuất siêu, 8 năm nhập siêu) |
| FDI của Nhật Bản vào Việt Nam |
Khởi sắc từ 2002 |
Lũy kế đến 31/12/2018: 4.007 dự án, vốn hơn 57.372 triệu USD |
Đứng thứ 2/135 quốc gia và vùng lãnh thổ; chiếm 14,6% số dự án và 18,8% tổng vốn FDI tại Việt Nam (có mặt tại 19 ngành, 54/63 tỉnh thành) |
| FDI của Việt Nam vào Nhật Bản |
Quy mô nhỏ |
Lũy kế đến 31/12/2018: 61 dự án, vốn 19,7 triệu USD |
Xếp thứ 32/57 quốc gia tiếp nhận đầu tư của Việt Nam; chiếm 5,2% số dự án và dưới 1% tổng vốn FDI ra nước ngoài của VN |
| Viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam |
Ưu tiên hàng đầu |
Tổng cam kết khoảng 27.800 triệu USD (26.000 triệu USD vốn vay, 1.800 triệu USD không hoàn lại) |
Chiếm trên 30% tổng nguồn vốn ODA quốc tế cam kết cho Việt Nam; Nhật là nhà tài trợ ODA lớn nhất của VN |
| Số liệu ODA qua JICA (2003 - 2018) |
- |
1.549.951 triệu Yên |
Chiếm 37,1% tổng viện trợ của Nhật cho khu vực Đông Nam Á (4.167.905 triệu Yên) |
| Số liệu ODA theo Bộ Ngoại giao Nhật (đến hết 2017) |
- |
Đăng ký hơn 22.124 triệu USD; giải ngân hơn 18.169 triệu USD |
Việt Nam là nước tiếp nhận ODA lớn nhất của Nhật Bản |
Lĩnh vực an ninh - quốc phòng: Bắt đầu hình thành từ năm 2007 và được đẩy mạnh sau Bản Ghi nhớ năm 2011. Các cơ chế hợp tác định kỳ được thiết lập gồm: Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng thường niên (từ năm 2012), Đối thoại An ninh chiến lược cấp Thứ trưởng (từ năm 2013), Hội nghị Đảm bảo An ninh trên biển (tổ chức lần đầu tháng 5/2013). Tháng 7/2014, Nhật Bản công bố hỗ trợ 6 tàu tuần tra đã qua sử dụng cho các cơ quan chấp pháp biển của Việt Nam; đồng thời duy trì các chuyến thăm, giao lưu giữa Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản với Hải quân và Cảnh sát biển Việt Nam.
Hợp tác đa phương: Hai bên phối hợp chặt chẽ tại Liên Hợp Quốc (UN), APEC, ASEM, EAS, ASEAN+3, ADMM+, ARF. Nhật Bản ủng hộ Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an UN nhiệm kỳ 2008 - 2009, gia nhập WTO, và mời Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng năm 2016. Việt Nam ủng hộ Nhật Bản ứng cử Ủy viên Thường trực và không thường trực Hội đồng Bảo an UN (nhiệm kỳ 2009 - 2010, 2016 - 2017).
Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ Nhật Bản - Việt Nam giai đoạn 2002 - 2018
Chương này đúc kết những đánh giá lý luận và thực tiễn:
- Đánh giá kết quả và hạn chế: Quan hệ chính trị phát triển liên tục, tin cậy cao; hợp tác kinh tế mang lại hiệu quả thực chất; an ninh - quốc phòng đạt bước tiến mới. Hạn chế gồm có: tiến trình nâng cấp đối tác chiến lược có phần chậm hơn so với một số đối tác lớn khác; quan hệ kinh tế có biểu hiện bất cân xứng (đầu tư và ODA mang tính một chiều từ Nhật Bản); tỷ trọng hàng hóa Việt Nam trong tổng ngoại thương Nhật Bản còn khiêm tốn; hợp tác quốc phòng còn chịu ràng buộc về thực lực và yếu tố tác động từ các nước lớn.
- Bốn đặc điểm cơ bản: (i) Quan hệ phát triển thuận lợi, tích cực trên tất cả các lĩnh vực; (ii) Là mối quan hệ “bất cân xứng” nhưng cơ hội lớn hơn thách thức, hợp tác vượt trội cạnh tranh nhờ sự tương đồng lợi ích; (iii) Ít chịu tác động tiêu cực từ nhân tố nước lớn thứ ba so với các cặp quan hệ Mỹ - Việt hay Trung - Việt; (iv) Mức độ hợp tác thực chất, sâu rộng hơn một số khuôn khổ “đối tác chiến lược toàn diện” khác mà Việt Nam đã thiết lập.
- Tác động của mối quan hệ: Giúp Nhật Bản mở rộng hiện diện tại Đông Nam Á, hiện thực hóa mục tiêu trở thành cường quốc toàn diện, tìm kiếm thị trường và nguồn cung ứng. Giúp Việt Nam thực hiện đường lối cân bằng quan hệ nước lớn, tranh thủ nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đóng góp vào hòa bình, ổn định và thúc đẩy liên kết kinh tế tại khu vực Đông Á (thông qua CPTPP, RCEP, AJCEP).
- Vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách: Sự khác biệt về thể chế chính trị, trình độ phát triển và khác biệt lợi ích cục bộ là những vấn đề cần xử lý. Tác giả đề xuất định hướng chính sách song phương, trong đó nổi bật là việc đề xuất Việt Nam áp dụng công thức đối ngoại “Bốn cần” và “Bốn tránh” kết hợp với chính sách quốc phòng “Bốn không”.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
Về mặt khoa học:
- Hệ thống hóa và phục dựng một cách toàn diện bức tranh lịch sử 16 năm quan hệ Nhật Bản - Việt Nam (2002 - 2018) trên ba trụ cột chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng dưới góc độ Sử học, tiếp cận từ chủ thể quan hệ Nhật Bản qua góc nhìn của học giả Việt Nam.
- Rút ra 4 đặc điểm mang tính quy luật của mối quan hệ, phân tích sâu sắc tính chất “bất cân xứng nhưng tương đồng lợi ích”, đồng thời lượng hóa tác động hai chiều của quan hệ song phương đối với từng quốc gia và đối với cấu trúc địa - chính trị khu vực Đông Á.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ công tác hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với Nhật Bản, hướng tới việc chuẩn bị nâng cấp quan hệ lên “Đối tác chiến lược toàn diện”.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu lịch sử thế giới hiện đại, quan hệ quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương và bộ môn Nhật Bản học.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất:
- Về chính trị - ngoại giao: Duy trì trao đổi đoàn cấp cao; tôn trọng thể chế chính trị; chủ động phối hợp xây dựng lộ trình nâng cấp quan hệ lên “Đối tác chiến lược toàn diện”; ủng hộ Nhật Bản trở thành Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an UN khi cơ quan này mở rộng.
- Về kinh tế: Đẩy mạnh tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế; thúc đẩy sử dụng đồng nội tệ trong thanh toán; hoàn thiện môi trường pháp lý trong nước; đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu để giảm nhập siêu công nghệ; vận động duy trì nguồn vốn ODA chất lượng cao song song với khắc phục tính chất đầu tư một chiều.
- Về an ninh - quốc phòng: Triển khai hiệu quả Tuyên bố Tầm nhìn chung 2018 và các văn kiện quốc phòng ký kết năm 2021; nâng cấp đối thoại quốc phòng lên cấp Bộ trưởng; tận dụng hỗ trợ kỹ thuật và trang bị chấp pháp biển đã qua sử dụng của Nhật Bản; giữ vững nguyên tắc “Bốn không”.
- Nguyên tắc đối ngoại đề xuất riêng cho Việt Nam: Thực hiện bài học “Bốn cần” ((i) Duy trì tin cậy chính trị cao; (ii) Tiếp tục ủng hộ Nhật Bản tại Hội đồng Bảo an UN; (iii) Triệt để khai thác lợi thế kinh tế; (iv) Tranh thủ tối đa ODA và hỗ trợ quốc phòng) và “Bốn tránh” ((i) Tránh làm mất thể diện nước lớn của Nhật Bản; (ii) Tránh đẩy Nhật Bản vào thế phải lựa chọn giữa Việt Nam và nước khác; (iii) Tránh quan hệ hợp tác một chiều; (iv) Tránh để bị lôi kéo vào các tập hợp lực lượng phục vụ mưu đồ riêng).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản tóm tắt luận án cho thấy một số ranh giới nghiên cứu khách quan:
- Luận án giới hạn việc khảo sát thực chứng đến năm 2018 theo phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài, do đó các diễn biến hợp tác mới từ năm 2019 đến năm 2022 (thời điểm hoàn thành luận án) mới chỉ được đề cập khái quát như phần triển vọng mở rộng chứ chưa được phân tích thành hệ thống dữ liệu chi tiết.
- Nguồn tư liệu của luận án tuy phong phú nhưng vẫn chịu ảnh hưởng bởi tính sẵn có của các báo cáo thống kê chính thức, trong đó có sự chênh lệch số liệu thống kê giữa các cơ quan quản lý hai nước (như dữ liệu ODA giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam, Bộ Ngoại giao Nhật Bản và JICA). Ngoài ra, các phân tích về an ninh - quốc phòng bị giới hạn do tính chất bảo mật của tài liệu quân sự.
- Việc tiếp cận từ góc độ Sử học tập trung nhiều vào việc phục dựng diễn trình lịch sử và đánh giá chính sách, do đó dung lượng phân tích chuyên sâu về kinh tế lượng hoặc các mô hình lý thuyết quan hệ quốc tế phương Tây hiện đại chưa được khai thác sâu.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả gợi mở việc tiếp tục theo dõi, đánh giá giai đoạn từ năm 2019 trở đi, đặc biệt là giai đoạn hướng tới cột mốc 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973 - 2023), phân tích quá trình chuẩn bị thể chế để nâng cấp quan hệ lên “Đối tác chiến lược toàn diện sâu rộng” trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng gia tăng.
Giá trị tham khảo
Bản mô tả luận án chỉ ra các giá trị ứng dụng cụ thể:
- Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách đối ngoại: Luận án cung cấp hệ thống số liệu kinh tế và luận cứ khoa học về thực trạng 16 năm quan hệ, đặc biệt là các đề xuất chính sách mang tính thực tiễn cao như công thức “Bốn cần” và “Bốn tránh”, giúp cán bộ ngoại giao tham mưu xử lý quan hệ với Nhật Bản hài hòa trong thế cân bằng nước lớn.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trong các chuyên ngành Lịch sử Thế giới, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Khu vực học (Đông Bắc Á học, Đông Nam Á học) tại các trường đại học, học viện và viện nghiên cứu.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng biểu tổng hợp các hiệp định khung pháp lý ký kết qua 33 chuyến thăm cấp cao; dữ liệu thống kê thương mại - FDI - ODA giai đoạn 2002 - 2018; và các phân tích về bước chuyển trong hợp tác an ninh - quốc phòng biển đảo giữa hai nước tại Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung thời gian nghiên cứu của luận án là giai đoạn nào và ý nghĩa của việc chọn mốc thời gian đó?
Luận án nghiên cứu giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2018. Mốc 2002 là thời điểm hai nước ra Tuyên bố chung thiết lập quan hệ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài” nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Koizumi; mốc 2018 là thời điểm hai nước kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và ký kết Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng hướng tới thập niên tiếp theo.
2. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Nhật Bản và Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2018 đạt mức bao nhiêu và cán cân nghiêng về bên nào?
Trong cả giai đoạn 2002 - 2018, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 323.661 triệu USD. Cán cân thương mại tương đối cân bằng nhưng xét tổng thể Việt Nam xuất siêu sang Nhật Bản 4.319 triệu USD (Nhật Bản xuất khẩu sang Việt Nam 159.671 triệu USD và nhập khẩu từ Việt Nam 163.990 triệu USD; trong đó có 9 năm Nhật Bản xuất siêu và 8 năm Nhật Bản nhập siêu). Kim ngạch hai chiều từ hơn 4.940 triệu USD năm 2002 đã tăng lên gần 38.000 triệu USD năm 2018 (tăng gần 8 lần).
3. Vị thế đầu tư FDI và viện trợ ODA của Nhật Bản tại Việt Nam lũy kế đến hết năm 2018 được ghi nhận như thế nào?
Về FDI, tính đến 31/12/2018, Nhật Bản đứng thứ hai trong tổng số 135 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với 4.007 dự án còn hiệu lực (chiếm gần 14,6% tổng số dự án) và hơn 57.372 triệu USD vốn đăng ký (chiếm hơn 18,8% tổng vốn FDI). Về ODA, Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất, cam kết khoảng 27.800 triệu USD (26.000 triệu USD vốn vay, 1.800 triệu USD viện trợ không hoàn lại), chiếm trên 30% tổng nguồn vốn ODA cam kết quốc tế dành cho Việt Nam.
4. Cơ chế hợp tác an ninh - quốc phòng song phương chính thức được thúc đẩy từ mốc thời gian nào và có những kết quả cụ thể gì?
Hợp tác an ninh - quốc phòng song phương bắt đầu được đề cập từ năm 2007 và thực sự triển khai mạnh sau Bản Ghi nhớ về Hợp tác và Trao đổi quốc phòng song phương năm 2011. Các cơ chế định kỳ gồm: Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng (từ 2012), Đối thoại An ninh chiến lược cấp Thứ trưởng (từ 2013), Hội nghị Đảm bảo An ninh trên biển (từ tháng 5/2013). Đáng chú ý, tháng 7/2014, Nhật Bản đã tuyên bố viện trợ 6 tàu tuần tra đã qua sử dụng cho lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam.
5. Hàm ý chính sách “Bốn cần” và “Bốn tránh” mà tác giả đề xuất cho Việt Nam bao gồm những nội dung cụ thể nào?
“Bốn cần” gồm: (i) Tiếp tục duy trì sự tin cậy cao về chính trị; (ii) Tiếp tục ủng hộ Nhật Bản trở thành Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an UN; (iii) Triệt để khai thác lợi thế trong hợp tác kinh tế; (iv) Tranh thủ tối đa nguồn vốn ODA và hỗ trợ về quốc phòng của Nhật Bản. “Bốn tránh” gồm: (i) Tránh làm mất thể diện nước lớn của Nhật Bản; (ii) Tránh buộc Nhật Bản phải lựa chọn giữa Việt Nam hoặc một nước khác; (iii) Tránh tình trạng quan hệ hợp tác một chiều; (iv) Tránh để bị lôi kéo vào các tập hợp lực lượng phục vụ cho lợi ích và mưu đồ của nước lớn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tuấn là công trình chuyên khảo sử học tái hiện có hệ thống tiến trình 16 năm phát triển của quan hệ Nhật Bản - Việt Nam (2002 - 2018) trên các phương diện chính trị, kinh tế và quốc phòng. Bằng nguồn dữ liệu thống kê phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp liên ngành, tác giả đã làm rõ bản chất mối quan hệ hợp tác bất cân xứng nhưng có mức độ tương đồng lợi ích cao giữa hai quốc gia. Các đánh giá khách quan về hạn chế cùng nhóm khuyến nghị chính sách “Bốn cần, Bốn tránh” đã tạo nên giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu lịch sử thế giới và hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.