Chương 1: Khái quát về chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ. Chương 2: Tác động của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đến các quốc gia trong khu vực. Chương 3: Một số nhận xét về tác động của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và khuyến nghị đối với Việt Nam. 12 z Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ CHIẾN LƢỢC ẤN ĐỘ DƢƠNG – THÁI BÌNH DƢƠNG CỦA MỸ 1.
Về chiến lƣợc Ấn Độ Dƣơng - Thái Bình Dƣơng Khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương không chỉ là nơi có dân số đông nhất thế giới, mà còn là một trong những khu vực có nền kinh tế phát triển, sôi động bậc nhất, nhưng cũng là nơi tồn tại nhiều điểm nóng của thế giới. Hiện tại, khu vực này có 03 nền kinh tế lớn nhất thế giới (Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản) và một số thị trường có tốc độ phát triển rất nhanh, điển hình là: Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh. Về quốc phòng, 7/10 quốc gia trong khu vực được đánh giá có quy mô quân đội lớn nhất toàn cầu, gồm: Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Paskistan và Australia. Với vị trí địa chiến lược như vậy, khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đã, đang và sẽ trở thành nơi cạnh tranh chiến lược của các cường quốc trên thế giới [Nguyễn Thanh Minh, 2018].
Trên thực tế là vị thế vai trò của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày càng suy giảm trước sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt của Trung Quốc. Mỹ cho rằng, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, đặc biệt là việc Bắc Kinh nỗ lực xây dựng và quân sự hóa các tiền đồn ở Biển Đông đang đe dọa dòng chảy thương mại tự do, đe dọa thu hẹp chủ quyền của các quốc gia, làm suy giảm sự ổn định khu vực và việc Trung Quốc đẩy mạnh sáng kiến “Vành đai và Con đường” của nước này, đang thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ tại khu vực. Trong khi đó, khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương chưa có một cơ chế đa phương về an ninh tập thể mà chủ yếu dựa trên các hiệp định và thỏa thuận song phương, như: Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ, Hiệp ước về phòng thủ chung giữa Mỹ và Hàn Quốc…Bên cạnh đó, từ nội tại của nước Mỹ. Là khu vực tiếp giáp với nhiều đại dương, cửa 13 z ngõ, yết hầu nối liền nước Mỹ với thế giới, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương luôn được Mỹ coi là khu vực địa chiến lược trọng yếu, tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia và vai trò lãnh đạo thế giới của nước này.
Vì vậy, việc thực hiện chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là cách để Mỹ bảo vệ lợi ích của công dân và thị trường Mỹ, bảo đảm sự tự do và an ninh giao thông đường biển, duy trì thế cân bằng lực lượng, thúc đẩy các mặt dân chủ và nhân quyền theo tiêu chuẩn của Mỹ tại khu vực. Vì cả hai yếu tố nội tại và bên ngoài này, Mỹ nhận thấy cần phải tập hợp lực lượng, thắt chặt mối quan hệ với các đồng minh tại khu vực, trong đó có khuyến khích vai trò của Ấn Độ, để bảo vệ lợi ích, duy trì ảnh hưởng và vị trí siêu cường của mình tại khu vực [Lê Đức Cường, 2018]. Trước tình hình đó, Mỹ đã khẩn trương xây dựng Chiến lược An ninh Quốc gia, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược khu vực mới để đối phó với các thách thức. Tháng 10/2017, cựu Ngoại trưởng Mỹ Tillerson đã 15 lần sử dụng thuật ngữ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” trong một bài phát biểu về việc các đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Australia nên hợp tác như thế nào để ngăn chặn thách thức của Trung Quốc đối với trật tự quốc tế dựa trên các quy định.
Ngày 02/11/2017, tại buổi họp báo trước thềm chuyến công du châu Á đầu tiên của Tổng thống Mỹ Donald Trump, cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ H.McMaster đã nhiều lần nhắc lại thuật ngữ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Trong bài phát biểu tại Hội nghị cấp cao APEC tổ chức tại Việt Nam ngày 10/11/2017, lần đầu tiên Tổng thống Mỹ Donald Trump chính thức công bố khái niệm “Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” và 8 lần nhắc lại cụm từ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” [Nguyễn Nhật Huy - Sơ Nguyên, 2018]. Sau bài phát biểu ở Việt Nam của Tổng thống Mỹ Donald Trump, ngày 12/11/2017, bên lề Hội nghị thượng đỉnh Cấp cao ASEAN lần thứ 31 tại 14 z Philippines, đã diễn ra cuộc gặp đầu tiên giữa ngoại trưởng bốn nước Mỹ - Nhật Bản - Ấn Độ - Australia để thảo luận về việc theo đuổi các lợi ích chiến lược chung trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Cuộc họp này là động thái chính thức đầu tiên trong việc hình thành cơ chế đối thoại an ninh bốn bên trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở (thực chất là khôi phục lại đối thoại 4 bên vốn có từ năm 2007) [Bùi Xuân Anh, 2019, tr.
Ngày 02/4/2018, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tổ chức họp báo, chính thức giới thiệu nội dung tóm tắt Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Về cơ bản chiến lược này là sự tiếp nối của chiến lược Tái cân bằng dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Obama, là bước đi mới nhằm đảm bảo lợi ích của Mỹ trước sự thay đổi tình hình trên thực tế ở khu vực đang gây ra những bất lợi cho Mỹ và đồng minh. Từ ngày 4-5/4/2018, tại Ấn Độ đã diễn ra đối thoại chiến lược Mỹ - Nhật Bản - Ấn Độ lần thứ 9. Tại cuộc đối thoại, ba nước đều cam kết thúc đẩy hợp tác về mọi mặt nhằm triển khai Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.
Tiếp đó, ngày 02/6/2018 tại đối thoại Shangri-La lần thứ 17 tại Singapore, cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mattis đã có bài phát biểu về chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, khẳng định chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chỉ là một bộ phận của chiến lược an ninh rộng lớn của Mỹ, được xây dựng để kết nối hai khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm bảo vệ an ninh và lợi ích của Mỹ, nhấn mạnh mối đe dọa từ Trung Quốc, công bố chủ trương tập hợp lực lượng, đổi mới các quan hệ đồng minh, đối tác để tăng cường bảo vệ an ninh, lợi ích của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Tự do và rộng mở đã thể hiện rõ tầm nhìn đó [Phạm Quang Minh - Hồ Ngọc Diễm Thanh, 2018, tr. Nội dung cơ bản của chiến lƣợc Ấn Độ Dƣơng – Thái Bình Dƣơng 1. Mục tiêu chiến lược - Mục tiêu bao trùm: Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ là bước đi cụ thể hóa Chiến lược An ninh Quốc gia, Chiến lược Quốc phòng quốc gia mới công bố của Mỹ để triển khai tại khu vực này.
Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở tiếp tục theo đuổi mục tiêu mà Mỹ theo đuổi từ nhiều thập kỷ qua tại khu vực – đó là củng cố vai trò lãnh đạo khu vực của Mỹ, bảo vệ lợi ích an ninh và kinh tế của Mỹ và đồng minh, kiềm chế ngăn chặn các đối thủ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trước hết và chủ yếu là Trung Quốc, Nga, thông qua đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược, sử dụng mọi công cụ sức mạnh, để ngăn ngừa chế áp các đối thủ [Hoàng Kim Trường, 2018, tr. Khi giới thiệu tóm tắt nội hàm của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề Đông Á – Thái Bình Dương Alex N.Wong khẳng định (4/2018): “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở vừa công bố không mới so với các chiến lược Mỹ đã theo đuổi tại khu vực trong suốt 70 năm qua”. Đạo luật Sáng kiến trấn an châu Á (ARIA) của Quốc hội Mỹ xác định rõ: “Nếu không có sự lãnh đạo của Mỹ, hệ thống quốc tế cơ bản dựa trên luật pháp có thể mai một, gây tổn hại đến lợi ích của Mỹ, khu vực và toàn cầu. Điều bắt buộc là Mỹ phải tiếp tục đóng vai trò hàng đầu ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Chính sách của Mỹ là phát triển và cam kết một tầm nhìn chiến lược dài hạn và chính sách toàn diện, đa diện, dựa trên nguyên tắc đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhằm duy trì hòa bình thông qua sức mạnh, đảm bảo lợi ích an ninh quốc gia quan trọng của Mỹ; Thúc đẩy thịnh vượng bằng cách thúc đẩy lợi ích kinh tế của Mỹ; Nâng tầm ảnh hưởng của Mỹ dựa trên 16 z giá trị Mỹ và nhân quyền phổ quát; Đề cao việc tuân thủ và ủng hộ luật pháp quốc tế”. - Mục tiêu chủ yếu: Mục tiêu chủ yếu của Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ là kiềm chế, kiểm soát, ngăn chặn Trung Quốc; Chính quyền Mỹ đang gấp rút xây dựng và phối hợp với các nước trong nhóm “Bộ tứ” triển khai Chiến lược này để đối phó với Sáng kiến BRI của Trung Quốc – một Sáng kiến theo đuổi mục tiêu thiết lập vị thế siêu cường thế giới đang được Trung Quốc triển khai quyết liệt với quy mô lớn, tạo ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu; Trung Quốc là đối tượng chủ yếu về mặt quân sự - chính trị của Mỹ và đồng minh trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Chiến lược này nhấn mạnh nội hàm quân sự - quốc phòng - an ninh nhằm phát huy lợi thế so sánh của Mỹ, đồng thời phát huy các cơ chế song phương, ba bên và bốn bên với các đồng minh và đối tác. Thứ hai, nhằm tranh thủ các cơ hội kinh tế của khu vực này, nhất là với việc Châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ đang và sẽ tiếp tục là trọng tâm tăng trưởng của thế giới.
Ba là, thông qua chiến lược Mỹ muốn làm yên lòng đồng minh và đối tác, tạo khuôn khổ và công cụ để Mỹ trấn an các nước về sự hiện diện của Mỹ, đảm bảo chiều hướng phát triển lâu dài tại khu vực có lợi cho Mỹ [Nguyễn Hữu Túc, 2019, tr.