phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu, luận án được chia làm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu: Chương này trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nhằm rút ra những nội dung mà luận án cần bổ sung, nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn: Chương này sẽ trình bày các đặc điểm thể hiện vai trò địa an ninh và địa kinh tế của vịnh Cam Ranh, trong đó có giới thiệu chi tiết về giai đoạn hợp tác quốc tế tại Cam Ranh của Việt Nam từ năm 1979 đến 2002. Chƣơng 3: Vịnh Cam Ranh trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam từ 2002 đến nay: Đây là chương phân tích các chính sách về an ninh cũng như kinh tế của Việt Nam nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế tại vịnh Cam Ranh và quá trình Việt Nam thực hiện các chính sách này từ năm 2002 đến nay. Chƣơng 4: Đặc điểm, tác động và triển vọng: Chương này sẽ phân tích những đặc điểm của chính sách Cam Ranh của Việt Nam, đánh giá những tác động của chính sách này đến quan hệ quốc tế, phân tích triển vọng Cam Ranh trong tương lai, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị.
12 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Kể từ khi Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ và công khai hiện thực hóa “giấc mơ Trung Hoa”, quốc gia này đã đẩy mạnh tiến trình mở rộng ảnh hưởng ở nhiều khu vực chiến lược tại châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông. Có một vị trí địa chiến lược quan trọng ở Biển Đông, vịnh Cam Ranh của Việt Nam, càng được nhắc đến nhiều và thu hút sự quan tâm của các nước lớn cũng như các học giả, nhà nghiên cứu cả trong nước lẫn ngoài nước. Tuy nhiên, do tính đặc thù của một địa điểm chiến lược, các công trình nghiên cứu khoa học được công bố rộng rãi dưới dạng sách tham khảo, bài báo cáo khoa học còn khá ít. Mặc dù vậy, qua quá trình tìm hiểu, luận án vẫn tiếp cận được một số công trình giá trị có liên quan đến đề tài và có thể làm làm sáng tỏ hơn các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu: 1.
Những công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại nói chung của Việt Nam và quan hệ giữa Việt Nam với các nƣớc lớn Phạm Bình Minh (2015), Ngoại giao Việt Nam: Quá trình triển khai đường lối đối ngoại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đây là một công trình tổng hợp về ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn mới, với nền tảng là đường lối, chính sách của Đảng được triển khai từ Đại hội XI (2011). Trên tinh thần này, công trình dẫn giải tới khái niệm về ngoại giao toàn diện trong giai đoạn mới, đó là “nền ngoại giao thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm huy động mọi lực lượng/binh chủng/kênh đối ngoại; vận dụng mọi hình thức/công cụ đối ngoại; triển khai trên nhiều lĩnh vực/địa bàn và hướng đến nhiều đối tượng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện hiệu quả mục tiêu đối ngoại của Đảng và Nhà nước” [Phạm Bình Minh, 2015, tr.
Đây có thể xem như một cách diễn giải chi tiết của đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” mà luận án có thể kế thừa trong những phân tích về chính sách của Việt Nam đối với vịnh Cam Ranh. Thêm vào đó, những nội dung về quá trình triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XI và việc phát huy truyền thống ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn mới cũng có nhiều giá trị tham khảo cho luận án, nhất là những nội dung đề cập tới Trung Quốc, Mỹ và việc phát huy vai trò của địa phương trong hội nhập quốc tế. Đặc biệt, trong công tác đối ngoại với Trung Quốc, tác giả công trình nhận 13 z định rằng, với những diễn biến mới của cả Việt Nam và Trung Quốc, hơn bao giớ hết, hai bên đều cần môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ mục tiêu chiến lược. Tương lai của mỗi nước cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực đòi hỏi quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phải phát triển ổn định, lành mạnh.
Bên cạnh đó, triển vọng quan hệ Việt – Mỹ cũng được mở ra khi tác giả công trình khái quát những thành tựu trong 20 năm quan hệ của hai nước cựu thù. Tất cả những vấn đề này sẽ được phân tích thêm trong luận án, làm cơ sở cho định hướng hợp tác quốc tế tại Cam Ranh của Việt Nam. Điểm hạn chế của công trình là chỉ xoay quanh Đại hội Đảng lần thứ XI, chính vì thế, các phần nội dung về quá trình triển khai quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với Trung Quốc, Mỹ, ASEAN còn khá chung, gần như chỉ mang tính định hướng mà chưa đi sâu vào chi tiết các hoạt động thể hiện mối quan hệ. Khoảng trống này sẽ được luận án bổ sung và cập nhật.
Phạm Bình Minh (chủ biên) (2010), Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về chiến lược đối ngoại nói chung của Việt Nam, tập trung vào tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại; lợi ích quốc gia, dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam; về độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; về lòng tin trong quan hệ quốc tế và định hướng chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại Việt Nam. Tác giả đã đặt những chủ trương, đường lối đối ngoại của Việt Nam trong sự kết nối, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, nhấn mạnh rằng, đa phương, đa dạng, làm bạn với tất cả các nước dân chủ và tiến bộ là một tư tưởng vượt thời đại, xuyên suốt hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam [Phạm Bình Minh, 2010, tr. Đây là nền tảng lý luận quan trọng để luận án có những phân tích, đánh giá về chính sách đối ngoại nói chung của Việt Nam, làm cơ sở cho chính sách thúc đẩy hợp tác quốc tế tại vịnh Cam Ranh.
Bên cạnh đó, phần nội dung về quan hệ với các nước lớn cũng có giá trị tham khảo vô cùng quan trọng cho đề tài luận án. Như tác giả đã đề cập, trên thực tế, quan hệ nước lớn có vị trí trung tâm trong tư duy nhận thức và hoạt động thực tiễn đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước Việt Nam [Phạm Bình Minh, 2010, tr. Bởi vì Việt Nam nằm ở Đông Nam châu Á, có biển Đông – một khu vực địa lý – chính trị quan trọng, vốn có nhiều nước lớn quan tâm. 14 z Không những thế, Việt Nam còn nằm bên sườn phía nam của Trung Quốc.
Tất cả những đặc điểm này khiến Việt Nam, trong suốt thời kỳ hiện đại, luôn gắn liền với việc xử lý quan hệ với các nước lớn. Đây là những thông tin có giá trị tham khảo lớn cho đề tài luận án, đặc biệt cho những phân tích về bối cảnh thúc đẩy hợp tác quốc tế tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam và việc tại sao Việt Nam phải thúc đẩy quan hệ với các nước lớn tại vùng vịnh này. Cũng liên quan đến quan hệ với nước lớn, nhưng ở một nội dung khác, tác giả công trình còn nhấn mạnh đến đường lối đối ngoại của Việt Nam trên cơ sở có sự xem xét đến vị trí địa lý của Việt Nam cũng như tương quan lực lượng giữa Việt Nam với các cường quốc. Nhắc lại nguyên tắc đối ngoại là giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước; tác giả cho rằng, nguyên tắc này xuất phát từ thực tế Việt Nam là nước nhỏ, lại ở khu vực địa – chính trị nhạy cảm, giao thoa lợi ích của nhiều nước lớn, dễ bị tác động, lôi kéo.
Do đó, đây là nguyên tắc và phương châm hành xử mang tính sống còn đối với đối ngoại của Việt Nam; tạo sự linh hoạt mà không cản trở việc triển khai có trọng tâm, trọng điểm đối ngoại [Phạm Bình Minh, 2010, tr. Nhận định này thực sự hữu ích cho đề tài luận án, giúp luận án củng cố quan điểm trong những phân tích về định hướng chính sách đối với vịnh Cam Ranh của Việt Nam, là phần không thể thiếu của luận án. Nguyễn Vũ Tùng (biên soạn) (2007), Chính sách đối ngoại Việt Nam, Tập II (1975 – 2006), Nxb.Thế giới, Hà Nội. Tập sách này cung cấp những khía cạnh đa diện của chính sách đối ngoại Việt Nam từ năm 1975 đến 2006, tập hợp các bài viết từ các chuyên gia về đối ngoại; trong đó nhấn mạnh tới quá trình chuyển biến tư duy, nhận thức đối ngoại trước những thay đổi của tình hình thế giới từ 1986 đến nay.
Những nội dung mà luận án có thể kế thừa, thứ nhất là những phân tích về “vấn đề lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế” của Vũ Dương Huân. Tác giả cho rằng, “lợi ích quốc gia là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào, là nhân tố cực kỳ quan trọng để xác định chính sách đối ngoại quốc gia”. Trong khi đó, “lợi ích dân tộc là nhu cầu tồn vong và phát triển của dân tộc” [Vũ Dương Huân, 2007, tr. Tuy nhiên, vì quốc gia đại diện cho dân tộc trên trường quốc tế, cho nên, lợi ích dân tộc hay lợi ích quốc gia cũng là một.
15 z Điều đó có nghĩa, để định hình nên chính sách đối ngoại, phải xác định cho được lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc; nhưng đây không phải là một công việc dễ dàng gì. Theo phân tích của tác giả, muốn xác định đúng lợi ích dân tộc, phải dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp “ngũ tri” được phương Đông đúc kết, đó là “biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến” [Vũ Dương Huân, 2007, tr. Đây chính là tiền đề cho tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà đã trở thành một “châm ngôn” đối ngoại của Việt Nam. Nội dung thứ hai mà luận án có thể tham khảo là phần “Phát triển quan hệ với các nước lớn trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta” của Nguyễn Hoàng Giáp.
Theo tác giả, việc Việt Nam thúc đẩy quan hệ với các nước lớn xuất phát từ nhận thức rằng, các quốc gia này đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế, nhất là trong lĩnh vực kinh tế.