phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương và tài liệu tham khảo. Những van đề chung và cơ sở dé phân định biển giữa Việt Nam và Campuchia. Quá trình hợp tác về phân định biển giữa Việt Nam và Campuchia từ năm 1982 đến năm 2021. Đánh giá quá trình hợp tác về phân định biển giữa Việt Nam và Campuchia, triển vọng thời gian tới và kiến nghị một số giải pháp.
NHỮNG VAN DE CHUNG VÀ CƠ SỞ DE PHAN ĐỊNH BIEN GIỮA VIỆT NAM VÀ CAMPUCHIA 1. Khái quát vùng biển Việt Nam - Campuchia 1. VỊ trí địa lý Vùng biển Việt Nam - Campuchia nam trong vịnh Thái Lan, là phan phía Tây của Biển Đông, tạo thành một vùng lõm rộng trên bờ biển phía Nam của lục địa Đông Dương, trải dài từ vĩ tuyến 5° đến 14° Bắc và từ kinh tuyến 99° đến 105° Đông và kết thúc ở phía Bắc Đông Bắc ở mũi Cà Mau tại 8°36” Bắc - 102°21' Đông. Vùng biển Việt Nam - Campuchia là một biển nửa kín, với điện tích khoảng 300.000 km2, giới hạn bởi bờ biển của bốn nước Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Campuchia.
Vịnh thông ra biển Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất hợp bởi mũi Cà Mau và mũi Trenggranu cách nhau chừng 400 km (215 hải lý). Vinh kha dài (chừng 450 hải lý) nhưng có diện tích nhỏ, chiều rộng trung bình là 385 km (208 hải lý). Ngoài ra, vịnh có khoảng 200 đảo, đảo nhỏ chủ yếu tập trung vào phần phía Đông và gần bờ biển. Đó là yếu tố làm phức tạp hóa không chỉ với việc phân định ranh giới các vùng biển giữa Việt Nam và Campuchia mà còn cả đối với việc phân định biển giữa một bên là Campuchia và Việt Nam với bên kia là Thái Lan.
[Phạm Thị Hồng Phượng, 2006, tr. Vùng biển giữa Việt Nam và Campuchia trong vịnh Thái Lan có trên 100 đảo lớn nhỏ như Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu (Poulo Panjang), dao Wai (Poulo Wai), quan dao Hai Tac, dao Phu Du, hòn Tiên Mới. Trừ dao Phú Quốc có diện tích lớn 600 km2, còn lại chủ yếu các đảo có diện tích nhỏ: đảo Thổ Chu khoảng 10 km2, đảo Phú Dự 25 km2, Hòn Dứa 6 km2, các đảo còn lại có diện tích từ vải trăm mét vuông đến 1-2 km2. Độ sâu khu vực giữa các đảo không cao, giữa Thổ Chu và đảo Phú Dự trung bình là 20 m, quanh quan đảo Thổ Chu độ sâu lớn nhất là 40 m.
Như vậy, nêu mực nước hạ đi 40 m, vùng biên gân bờ biên phía Đông của vịnh 11 Thái Lan, nằm giữa đảo Koh Rong, Koh Phao (Campuchia), Hòn Trọc, quần đảo Hòn Khoai sẽ là một đồng bang rộng lớn, các đảo trong vùng trở thành các núi nhỏ, đảo cao nhất không quá 100 m. Vùng biển chung giữa Việt Nam và Campuchia trong vịnh Thái Lan có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với cả hai quốc gia. Nơi đây có những đặc điểm về tự nhiên nhiều rặng san hô tự nhiên và thắng cảnh đẹp, nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng về cả số lượng và chất lượng. Những lợi ích về giao thông mà vùng biển này mang lại tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông trên biển của các quốc gia có liên quan nhằm giao lưu, buôn bán, thông thương với các quốc gia khác và với các vùng biển ngoài Vịnh.
Chính tầm quan trọng về vị trí địa lý, lợi ích kinh tế của nơi này nên việc tranh chấp về xác lập chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia là không tránh khỏi. Điều kiện tự nhiên - xã hội Ở vùng biển nay, tài nguyên thiên nhiên bao gồm hai loại chính: một là tài nguyên sinh vật biển, hai là tài nguyên khoáng sản chứa trong các tram tích của thêm lục địa. Cụ thé: - Về tài nguyên sinh vật: Do vùng biển này có độ sâu không lớn, nên có nhiệt độ và ánh sáng thích hợp, vịnh tạo nên môi trường thuận lợi cho các sinh vật sống. Thực tế, với độ sâu không lớn như vậy, các loại chất dinh dưỡng được tái tao dé dàng hơn từ đáy biển lên bề mặt nước có ánh mặt trời, tại đây các loài thực vật nổi có thé phát triển.
Điều này đã tạo điều kiện để hình thành nguồn cá biển quan trọng. Ở khu vực này có ít nhất khoảng 100 loài cá khác nhau, trong số đó có khoảng 20 loài cá có tầm quan trọng về kinh tế. Trong số các nước ven biển, Thái Lan là nước có ngành công nghiệp cá phát triển nhất. Sản lượng hang năm của Thái Lan là 2,3 triệu tan, đứng hàng thứ 8 trên thé giới.
Tuy nhiên, một bộ phận của sản lượng trên có được từ việc đánh cá trái phép trong các vùng biển của quốc gia khác. Đây cũng là nguyên nhân gây ra tranh châp với các nước láng giêng. 12 - Về tài nguyên khoáng sản: Theo các tư liệu của Ủy ban Kinh tế châu Á và vùng Viễn Đông của Liên hiệp quốc thì trong những năm 1970 đã ghi nhận các điều kiện địa chất của Vịnh thuận lợi cho việc tích tụ dầu lửa. Với các lớp trầm tích dày 8000 m được coi là vùng có nhiều hứa hẹn về dầu.
Song cho đến nay, việc thăm dò chi tiết vẫn chưa thể ước lượng rõ rang về trữ lượng cũng như chất lượng. Như đã nêu ở trên, vùng biển giữa Việt Nam và Campuchia có trên 100 đảo. Tuy nhiên, phần lớn các đảo đều có diện tích nhỏ, trừ đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Phú Dự, Hòn Dừa, các đảo còn lại có diện tích từ vai tram mét vuông đến 1 - 2 km”. Dân cư sống tập trung tại các đảo có nước ngọt, chủ yếu làm nghề chai lưới, trên đảo Phú Quốc con có thêm nghé chăn nuôi, trồng cao su, hỗ tiêu, dich vụ du lịch.
Trên mỗi đảo này đều có đời sống kinh tế riêng, có quá trình phát triển kinh tế, xã hội từ hang trăm năm nay. Đảo Phú Quốc nam cách bờ biển tỉnh Kampot, Campuchia khoảng 14 hải lý, cách bờ biển tinh Kiên Giang, Việt Nam, khoảng 25 hải lý. Đảo Phú Quốc có đất đai phì nhiêu thuân lợi cho trồng trọt; có rừng bao phủ hầu hết diện tích, với nhiều loài động thực vật quý hiếm. Bờ biển đảo có những cảnh quan kỳ thú và có những bãi tắm hấp dẫn đối với du khách gần xa.
Phía Nam Phú Quốc là quần đảo An Thới có khoảng trên dưới 20 đảo nhỏ, trên các đảo này có nhiều núi, ngọn cao nhất đến khoảng 641 m. Ở ven bờ có Hòn Tai, cách bờ biển Campuchia (Kép) 3 km, rộng 2 km”, có nhiều cây cối che phủ; Hòn Tre Nam, Hòn Kiến Vàng, Đảo Phú Dự. Đảo Phú Dự cách bờ biển tỉnh Kampot, Campuchia 0,5 hải lý, diện tích 25 km’, nơi cao nhất là 175 m, có nhiều tài nguyên thiên nhiên, phía tây đảo có đồng bằng khá phì nhiêu, phía Đông Bắc có sông nước ngọt. Ở ngoài khơi có quần đảo Thé Chu và Poulo Wai.
Quan dao Thé Chu gồm 8 dao, quan đảo này nằm xa nhất trong vịnh, cách đảo Phú Quốc chừng 55 hải lý, gần đường hàng hải lại có diện tích từ 10 m2 đến 1 km”. Dân cư 13 sinh sống chủ yếu ở đảo Thổ Chu làm nghề đánh cá và khai thác rừng. Đảo Poulo Wai cách mũi Tây Bắc Phú Quốc 59 hải lý, gồm hai đảo có diện tích tương đương, cách quần đảo Thổ Chu 45 hải lý. Những vấn đề trên biến mà Việt Nam và Campuchia cần hợp tác giải quyết 1.
Những vấn đề quốc té và khu vực Những van đề quốc tế và khu vực mà Việt Nam và Campuchia cần hop tác giải quyết bao trùm lên nhiều lĩnh vực quốc phòng - an ninh trên biển, phát triển kinh tế biển. Trước hết, về kinh tế biển, các nội dung hợp tác trải rộng từ khai thác tài nguyên biển và kinh tế biển như dầu khí, thủy sản, du lịch biển, đảo, vận tải biển, khai thác cảng biển. đến bảo tồn tài nguyên, môi trường biên, điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biên, phát triển khoa học - công nghệ biển, thu hút nguồn vốn ODA và các nguồn vốn khác đầu tư về cơ sở hạ tầng, các công trình phòng chống thiên tai cho các xã vùng ven biển, tăng cường năng lực phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu qua với biến đổi khí hậu vùng ven biển và tiếp giáp giữa hai quốc gia. Cu thé, về lĩnh vực thủy sản, Việt Nam tích cực hợp tác với Campuchia trong lĩnh vực này, đặc biệt là về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (TUU).
Ngoài nội dung hợp tác với Campuchia, Việt Nam đã ký kết 4 điều ước quốc tế và 17 thỏa thuận quốc tế về các lĩnh vực liên quan đến nghề cá và hợp tác trên biển với các nước trong và ngoài khu vực như Malaysia, Myanmar, Indonesia, AI Cập, Nga. Các thỏa thuận về thiết lập đường dây nóng trong các hoạt động nghé cá cũng đã được ký kết, trong đó gồm thỏa thuận ký với Australia về chống IUU, thiết lập đường dây nóng với Trung Quốc năm 2013 về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển, khai thông đường dây nóng Việt Nam - Philippines vào năm 2015. 14 Bên cạnh đó, các địa phương của Việt Nam cũng đã hợp tác, triển khai dự án với các đối tác nước ngoài nhằm nâng cao khả năng, chất lượng khai thác, nuôi trồng, thu mua và chế biến hải sản, chống IUU như các dự án do Tổ chức quốc tế tài trợ và hỗ trợ (Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liên hiệp quốc, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam A, Tổ chức Bảo tồn động vật hoang da. Về du lịch biến, Việt Nam hiện đang triển khai các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ thỏa thuận với Philippines và Singapore về phát triển du lịch tàu biển; hợp tác phát triển hành lang ven biển phía Nam giữa tỉnh Cà Mau, Kiên Giang với Campuchia và tỉnh Trat (Thái Lan); tiếp nhận và triển khai các hỗ trợ kỹ thuật về du lịch khu vực ven bién tại nhiều địa phương, thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch biển, đảo.
Về nội dung cần hợp tác nhằm bảo tồn tài nguyên và môi trường biển, nội dung hợp tác quốc tế tập trung vào tăng cường khả năng ứng phó với những tác động của biến đổi khí hậu tới môi trường biển và các tài nguyên biển Việt Nam. Hiện đang nghiên cứu triển khai dự án Xây dựng khả năng phục hồi hệ sinh thái ứng phó với biến đổi khí hậu cho cộng đồng vùng bờ biển tại Việt Nam.