Mở đầu là cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của người anh hùng Acha Soa vào năm 1864. Căn cứ chính của nghĩa quân là vùng núi Thất Sơn (còn gọi là Bảy Núi, Châu Đốc, An Giang, Việt Nam). Thực dân Pháp không thể dùng vũ lực để đè bẹp cuộc khởi nghĩa được nên họ đã dùng biện pháp mua chuộc bọn phản động trong hàng ngũ nghĩa quân. Tháng 8/1866, Acha Soa bị thương và bị bắt giao nộp cho Pháp.
Acha Soa bị bắt, nhưng cuộc khởi nghĩa không bị tan rã, mà nó được nối tiếp bằng cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn hơn do nhà sư Pucômbô lãnh đạo vào những năm 1866 – 1867. Nghĩa quân do Pucômbô lãnh đạo bao gồm đông đảo người Khmer, người Việt và căn cứ chính là ở Tây Ninh (Việt Nam). Giữa năm 1867, nghĩa quân Pucômbô bị thực dân Pháp bao vây. Để phá vòng vây, vào cuối năm 1867, Pucômbô tổ chức cuộc đột nhập vào Kôngpông Xoài nhưng thất bại.
Ông bị thương và rơi vào tay giặc. Sau đó, Pucômbô bị chặt đầu. Bên cạnh phong trào đấu tranh của nông dân Campuchia chống lại thực dân Pháp, là phong trào đấu tranh do các hoàng thân lãnh đạo, tiêu biểu là cuộc nổi dậy do hoàng thân Sivôtha lãnh đạo vào năm 1876 - 1877. Tám năm sau cuộc khởi nghĩa của Sivôtha, phong trào chống Pháp của nhân dân Campuchia lại bùng nổ vào những năm 1885 – 1886.
Tác động trực tiếp đến cuộc nổi dậy lần này là bản Hiệp ước mà triều đình Norodom phải ký 22 với thực dân Pháp ngày 17/6 /1884. Theo đó, chủ quyền của vương triều bị mất, đất nước chính thức trở thành thuộc địa. Sự bất bình của nhân dân và những người yêu nước trong giai cấp phong kiến Campuchia đã biến thành những cuộc nổi dậy chống Pháp. Bước sang những năm đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp tiếp tục bùng lên.
Tiêu biểu là những bài tố cáo thực dân Pháp của Hoàng thân Yucangto; cuộc khởi nghĩa của nhân dân tỉnh Xtungtreng với sự lãnh đạo của nhà sư Angsnuôn; hay cuộc khởi nghĩa của đồng bào Khạ và người Pơnông vào năm 1915 ở Côngpông Trạch… Trong những năm 20 của thế kỷ XX, những cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Campuchia không còn sôi nổi như những thời kỳ trước. Mãi đến những năm 1925 – 1926, phong trào chống chính sách thuế, chống bắt phu mới nổi lên ở một số địa phương. Nổi bật nhất là cuộc nổi dậy của nhân dân Cơrang Lêông ngày 15/11/1925 chống lại viên công sứ người Pháp và binh lính đàn áp những người chống thuế. Nhìn chung, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Campuchia trước năm 1930 đều do các hoàng thân và các nhà sư yêu nước lãnh đạo.
Các cuộc đấu tranh ấy thường dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang, cuối cùng đều bị thất bại. Từ năm 1930 trở đi, cuộc đấu tranh dân tộc của nhân dân Campuchia có những chuyển biến theo một xu hướng mới – xu hướng vô sản. Tuy nhiên, so với Việt Nam và Lào, phong trào đấu tranh của nhân dân Campuchia dưới sự ảnh hưởng của tư tưởng vô sản không mạnh. Vì vậy, khi các tổ chức cộng sản ở Campuchia bị đàn áp thì cuộc đấu tranh của nhân dân Campuchia những năm 1930 – 1935, hầu như lại rơi vào tình trạng tự phát.
Khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập và chịu trách nhiệm trước phong trào giải phóng dân tộc trên toàn bán đảo Đông Dương thì xu hướng dân tộc theo con đường vô sản bắt đầu hình thành ở Campuchia. Cuối năm 1931, ở các tỉnh Phnom Penh, Kanđan, Crachê và Côngpông Chàm, các cơ 23 sở cách mạng trong Việt kiều và trong nhân dân Campuchia lần lượt xuất hiện. Đến năm 1934, ban cán sự đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương được hình thành ở Campuchia với 5 chi bộ. Thế nhưng, đây là thời kỳ chính quyền thực dân Pháp đang tiến hành khủng bố trắng ở Đông Dương, cho nên các chi bộ này cũng bị đàn áp.
Mãi đến những năm 1936 – 1939, tình hình thế giới có biến chuyển lớn: ở Pháp Mặt trận Nhân dân lên nắm chính quyền, loài người tiến bộ cùng những người Cộng sản tập trung mũi nhọn vào chống chủ nghĩa phát xít, đòi dân sinh, dân chủ; ở Đông Dương cuộc đấu tranh chống thực dân cũng nằm trong trào lưu đó, phong trào đấu tranh của nhân dân Campuchia dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mới phục hồi và phát triển. Cùng với các phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Việt Nam và Lào, ở Campuchia những người cộng sản cùng với các lực lượng yêu nước đã thành lập Ủy ban hành động để hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội. Báo chí của Mặt trận Dân chủ Đông Dương tuyên truyền về Đông Dương đại hội được đưa tới quần chúng. Các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trí thức, viên chức, học sinh tham gia tích cực vào phong trào này.
Mặc dù cuộc đấu tranh của nhân dân Campuchia trong thời kỳ này chưa giành được những thắng lợi cụ thể, nhưng đây là thời kỳ Đảng và nhân dân Campuchia tập dượt để bước vào thời kỳ đấu tranh cao hơn. Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Viễn Đông, quân phiệt Nhật đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Trung Quốc và Đông Dương. Ngày 23/9, Pháp ký Hiệp định, chấp nhận quân Nhật chiếm đóng Đông Dương.
Trong tháng 7/1941, quân Nhật chiếm toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp, biến Đông Dương thành căn cứ chiến lược trong kế hoạch tiến quân xuống phía Nam của họ. Chế độ thống trị tàn bạo của Nhật đã nhanh chóng làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước Đông Nam Á. Cũng như cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam và Lào, cách mạng Campuchia 24 trong thời kỳ 1939 – 1945 vẫn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị Trung ương Đảng lần VI (11/1939) và sau đó là Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5/1941) nhấn mạnh vấn đề dân tộc giải phóng và chỉ rõ muốn đánh đuổi Nhật, giành lại độc lập dân tộc cho từng nước thì “phải có một lực lượng thống nhất của tất thẩy các dân tộc Đông Dương hợp lại” [74, tr.
Để huy động lực lượng dân tộc của từng nước, Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập ở mỗi nước trên bán đảo Đông Dương một mặt trận dân tộc riêng. Ở Campuchia thành lập Cao Miên độc lập đồng minh để phát huy sức mạnh dân tộc của nhân dân nước này. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Campuchia, các nhà sư có vai trò khá lớn từ những thế kỷ trước, đến lúc này vẫn được phát huy. Trong những năm 1941 – 1942, cuộc vận động đòi độc lập của nhà sư Acha Hemchiêu (giảng viên trường Cao đẳng Phật học Pali ở Phnom Penh) diễn ra.
Thực dân Pháp đã đàn áp phong trào do Acha Hemchiêu lãnh đạo. Ông bị đày đi Côn Đảo và mất ở đó. Cùng thời kỳ với cuộc vận động yêu nước do nhà sư Acha Hemchiêu khởi xướng, ở Campuchia còn xuất hiện cuộc vận động chống Pháp do nhóm thân Nhật tiến hành mà đứng đầu là Sơn Ngọc Thành và Đápchuôn. Tháng 7/1942, Sơn Ngọc Thành và Đápchuôn tổ chức cuộc nổi dậy ở Phnom Penh, nhưng nhanh chóng bị dập tắt.
Đápchuôn bị bắt, Sơn Ngọc Thành chạy sang Thái Lan, rồi lưu vong sang Nhật. Sau cuộc đảo chính ngày 9/3/1945, Sơn Ngọc Thành được Nhật đưa về Campuchia làm Bộ trưởng Ngoại giao rồi làm Thủ tướng chính phủ bù nhìn của Nhật. Cho đến trước khi Pháp xâm chiếm trở lại Campuchia (15/9/1945), chính quyền Nhà nước Campuchia vẫn nằm trong tay vua N.Sihanouk và Thủ tướng Sơn Ngọc Thành. Ngày 9/10/1945, Pháp cho một đại đội nhảy dù xuống Phnom Penh, bắt sống Sơn Ngọc Thành và các thành viên trong chính phủ Campuchia.
Triều đình phong kiến nhanh chóng quy thuận và ngày 7/4/1946, đã ký với Pháp hiệp định 25 chấp nhận sự thống trị trở lại của Pháp ở Campuchia. Nhân dân Campuchia bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bước sang năm 1950, sự phát triển của phong trào kháng chiến đặt ra đòi hỏi bức thiết phải thống nhất tất cả các lực lượng cách mạng trong cả nước. Từ ngày 17 đến ngày 19/4/1950, những người kháng chiến Campuchia đã tiến hành Đại hội quốc dân, thành lập Ủy ban mặt trận dân tộc thống nhất (Mặt trận Khmer) và bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương lâm thời, tức Chính phủ kháng chiến do Sơn Ngọc Minh làm Chủ tịch.
Ngày 19/4/1950, Chủ tịch Sơn Ngọc Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, kêu gọi toàn dân đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù, giành độc lập cho Tổ quốc. Ngày 19/6/1951, trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, quân đội cách mạng chính thức thành lập, lấy tên là Quân đội Ixarắc. Tháng 7/1951, Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản toàn Campuchia đã quyết định thành lập đảng của mình lấy tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia. Đến cuối năm 1952, tình hình chính trị, quân sự và tài chính của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương trở nên hết sức nguy kịch.
Trong bối cảnh đó, từ tháng 6/1952, vua N.Sihanouk đã tiến hành cuộc vận động ngoại giao (thường gọi là “Cuộc thập tự chinh của Quốc vương vì nền độc lập của Campuchia”), buộc chính phủ Pháp phải ký Hiệp ước “trao trả độc lập cho Campuchia” ngày 9/11/1953. Tuy nhiên, quân đội Pháp vẫn tiếp tục chiếm đóng Campuchia và nước này vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Lào, Việt Nam. Hiệp định cũng quy định tất cả các lực lượng quân đội Pháp rút khỏi lãnh thổ Campuchia, vĩnh viễn chấm dứt chế độ thống trị của thực dân Pháp ở đất nước này.
Từ năm 1954 đến năm 1970, Chính phủ Campuchia do N.Sihanouk đứng đầu đã thực hiện đường lối hòa bình, trung lập, không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía, miễn là không có 26 điều kiện ràng buộc. Nhờ có đường lối này, Campuchia có điều kiện đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục trong cả nước. Ngày 18/3/1970, dưới sự điều khiển của Mỹ, thế lực tay sai thân Mỹ ở Campuchia (Lon Nol – Sirik Matak) đã tiến hành cuộc đảo chính lật đổ N.Sihanouk, phá hoại nền hòa bình trung lập ở Campuchia và đưa Campuchia vào quỹ đạo cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ trên bán đảo Đông Dương.