Chương I: Đông Nam A và chính sách bành trướng của Trung Quốc. Sơ lược về Đông Nam á. Đông Nam Á diện tích 4.476 kilomet vuông số dân 350 triệu người với những tài nguyên vô cùng phong phú và quí giá có vị trí chiến lược quan trọng, nỗi bật như chiếc cầu nói liền hai khu vực An Độ Duong va Thai Bình Duong, như một trạm trung chuyển, giao tiếp của cả 5 châu: A, Úc, Mỹ, Phi, Âu.Có eo biển Ma-lắc-ca đóng vai trò quan trọng trong việc giao thương Đông- Tây, người ta ước tính cứ 5 phút lại có một chiếc tàu đi qua eo biển này. Vịnh Cam Ranh được xem là một trong những vịnh tốt nhất thé giới có vị trí chiến lược quan trọng tại biển Đông.
Khu vực Déng- Nam A còn là khu vực giàu tài nguyên , nhất là nguyên liệu chiến lược. Malaixia và Bru-nai mỗi năm sản xuất hơn 10 triệu tan dầu mỏ, Indonexia đạt gần 100 triệu tấn. Nguồn tài nguyên dầu mỏ của khu vực Đông Nam Á có tâm quan trọng ngày càng lớn đối với nền kinh tế thế giới, ngoài dải dầu mỏ phát hiện chạy dai từ Mién Điện tới Indonexia trong những năm gan đây người ta đã khoan thay dầu trên thêm lục địa thuộc biên Đông. Ngoài ra Đông Nam Á còn có rất nhiều khoán sản quí như thiếc (mỗi năm Malayxia sản xuất 60 nghìn tắn), Man-gan, Crôm ở Miễn Điện, Thái Lan, sắt ở trang 1] Quan hệ tam giác Trung Quốc- Việt Nam- Campuchia 1975-1979, Indonexia, Malayxia, Philippin, kẽm, chì ở Miễn Điện, than da ở Việt Nam.
vật động vật nhiệt đới phong phú, dồi dào. Với một vị trí địa lý chiến lược và nguôn tài nguyên phong phú như vậy từ lâu nơi đây là khu vực hap dẫn đối với tham vọng banh trướng của các thé lực xâm lược trên thé giới, những người dân can cù dũng cảm ở Đông Nam A trong suốt lịch sử hang ngàn năm của minh luôn luôn phải đối phó với các âm mưu xâm lược của nhiều thé lực, mà hướng bảnh trướng chính đó là các thé lực banh trướng bá quyên Trung Quốc. Vài nét về chính sách bá quyền đại Hán. Năm 1949 cuộc chiên đấu anh đũng của nhân dân Trung Quốc được sự ung hộ và giúp đỡ to lớn của các lực lượng xã hội chủ nghĩa và dân chủ, trước hết là của Liên Xô đã đánh bại Tưởng Giới Thạch va thành lập nước Cộng hoa nhân dân Trung Hoa.
Những lực lượng cách mạng vả tiến bộ trên thé giới mong đợi nước Trung Hoa mới trở thành một nhân tô góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình ỏn định và hợp tác giữa các dân tộc trên thé giới trước hết là khu vực ở Đông A và Đông Nam A. “The nhưng người đứng đầu nhà nước Trung Hoa mới và những người theo ông ta đã từ lễ dai Thiên An Môn Bắc Kính nhìn thé giới bằng đôi mắt của một Tan Thủy Hoang tan thời."? Khoác áo cộng sản nhưng thực ra Mao Trạch Đông đã mang nặng tư tưởng banh trướng và bá quyên đại Hán, chăng khác gì những thiên tử Trung ! Chính sách bá quyền Trung Quốc ở Đông Nam ATM- Nhuận Vũ- NXB Sự Thật- Ha Nội- Dan theo “1983- Trang23. ? Dẫn theo "Chinh sách bá quyền Trung Quốc 6 Đông Nam Á*- Nhuận Và- NXI) Sự Thật: Ha Nội- 1983+ Trang trang 12 Quan hệ tam giác Trung Quốc- Việt Nam- Campuchia 1975-1979. Quốc, Mao Trạch Đông "Cách mang Trung Quốc và Dang Cộng sản Trung Quốc "(xuất bản năm 1939) đã coi các nước Triều Tiên, Mông Cổ, các nước Đông Dương, Miền Điện, Butan .là những nước chư hầu của Trung Quốc” Đông Nam chau A là hướng banh trướng cé truyền trong lịch sử Trung Quốc, là khu vực mà từ lâu những người lãnh đạo nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ước mơ thôn tính.
Trong năm 1936, chủ tịch Mao Trạch Đông kê chuyện với nhà báo Mỹ Etga Xnâu ở Diên An về thời trẻ của mình, đã bộc lộ ý nghĩ sau khi đọc một cuỗn sách nhỏ nói đến việc Nhật chiếm Triều Tiên va Dai Loan, việc mat “chủ quyền” Trung Hoa ở Đông Dương, Miến Điện và nhiều nơi khác: *Đọc xong, tôi lẫy làm thất vọng đối với tương lai đất nước tôi và tôi bắt đầu nhận thức rang bon phận của mọi người là phải đóng góp cứu nước”". Tài liệu của Đảng cộng sản Trung Quốc do chủ tịch Mao Trạch Đông viết mang tên Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc, xuất bản năm 1939 có viết: “Các nước đế quốc sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cau, quan đảo Banh Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Hương Củng, Pháp chiếm An Nam. ” Cuốn sách Sơ lược lịch sử Trung Quốc hiện đại xuất bản năm 1954 ở Bắc Kinh có bản dé vẻ lãnh thé Trung Quốc bao gồm cả nhiều nước chung quanh, kẻ cả ở Đông Nam châu Á và vùng biên Đông.
` Cách mang Trung Quốc vả đảng Cộng sản Trung Quốc -1939 ® Et- ga- Xnau- Ngôi sao đỏ trên dit Trung Hoa- NXB Pen Guyn- Luan Din- 1972- Trang 159. trang 13 Quan hệ tam giác Trung Quốc- Việt Nam- Campuchia 1975-1979, Ý đô banh trướng của những người lãnh đạo Trung Quốc đặc biệt 16 rõ ở câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu ban nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á"" Cũng trong dịp này, chủ tịch Mao Trạch Đông so sánh nước Thái Lan với tinh Tứ Xuyên của Trung Quốc, vẻ diện tích thì tương đương nhưng về số dân thì tỉnh Tứ Xuyên đông gap đôi, và nói rằng Trung Quốc cần đưa người xuống Thai Lan dé ở; đối với nước Lào đất rộng người thưa, chủ tịch Mao Trạch Đông cũng cho rằng Trung Quốc cần đưa người xuống Lào để ở. Đặc biệt trong mấy chục năm qua tiếp tục truyền thống bá quyền của các vua chia Trung Quốc các thé lực phản động trong giới cam quyền Bắc Kinh đã thi hành những kế hoạch hết sức nham hiểm và tàn bạo nhằm thực hiện giấc mộng banh trướng bá quyền ở Đông Nam A, đỉnh cao của hành động tội ác đó là cuộc diét chủng mà Bắc Kinh đã tiến hành thông qua bọn tay sai ở Campuchia, tâm thảm kịch Campuhchia trên một mức độ đáng kê là sự phát triển của chính sách banh trướng của bon Mao ít và của “Cach mạng văn hóa” Trung Quốc.Thời ki cam quyén của Mao Trach Đông đưa ra mục tiêu chiến lược chính sách của Bắc kinh theo lời của Mao đó là “ Chỉnh phục trái đất"và “xây dựng một cường quốc mạnh”. Nhưng không thê chinh phục ngay trái đất được.
Nhu Mao đã nói “ bất kế món ăn nào không thé nuốt ngay một lần được, mà phải ăn “từng thìa một, từng miếng một” vì vậy miếng đầu tiên của nhà bếp bành trướng Trung Quốc chính là Đông Nam Ả. Những hành động thù địch công khai của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mà đình cao là cuộc chiến tranh xâm lược của họ ngày * Sự thật quan hệ Việt Nam va Trung Quốc trong 30 năm qua- NXB Sự Thật- 10-1979. trang 14 Quan hệ tam giác Trung Quốc- Việt Nam- Campuchia 1975-1979. 17 tháng 2 năm 1979, đã làm cho dư luận thế giới ngạc nhiên trước sự thay đổi đột ngột về chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Sự thay đổi đó không phải là điều bất ngờ, mà là sự phát triển lô-gích của chiến lược bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của những người lãnh đạo Trung Quốc trong 30 năm qua. Trên thé giới chưa có những người lãnh đạo một nước nao vẻ mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn điện như những người lãnh đạo Trung Quốc. Từ chỗ coi Liên Xô là đồng minh lớn nhất, họ đi đến chỗ coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất. Từ chỗ coi đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất mà bản chất không bao giờ thay đổi, họ đi đến chỗ coi dé quốc Mỹ là đồng minh tin cậy, câu kết với dé quốc Mỹ và trắng tron tuyên bố Trung Quốc là NATO ở phương đông.
Từ chỗ coi phong trào giải phóng dân tộc ở châu A, châu Phi và châu Mỹ la tinh là “bao tap cách mạng” trực tiếp đánh vào chủ nghĩa dé quốc và cho rằng rốt cuộc sự nghiệp cách mạng của toàn bộ giai cắp vô sản quốc tế sẽ tuỳ thuộc vào cuộc đầu tranh cách mạng của nhân dân ở khu vực nảy, họ đi đến chỗ cùng với dé quốc chống lại và phá hoại phong trao giải phóng dân tộc, ủng hộ những lực lượng phản động, như tên độc tài Pinôchê ở Chilê, các tô chức FNLA và UNITA do Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) giật dây ở Angôla, vua Palêvi ở Iran, nuôi dưỡng bè lũ diệt chủng PônPốt-lêngxary v.Họ ngang nhiên xuyên tạc nguyên nhân và tính chất của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới hiện nay, coi các cuộc đấu tranh này là sản phẩm của sự tranh giành bá quyên giữa các nước lớn, chứ không phải là sự nghiệp cách mạng của nhân dan các nước. trang 15 Quan hệ tam giác Trung Quốc- Việt Nam- Campuchia 1975-1979. Củng với sự lật ngược chính sách liên minh của họ trên thế giới là những cuộc thanh trừng tan bạo và dam máu ở trong nước, đàn áp những người chong đối, làm đảo lộn nhiều lần vai trò của những người trong giới cam quyền. Có người hôm nay được coi là nhà lãnh đạo cách mạng chân chính, ngày mai trở thành kẻ thù, kẻ phản bội của cách mang Trung Quốc; có người trong vòng may năm lần lượt bị đỗ và được phục hồi đến hai ba lần.
Chiến lược của những người lãnh đạo Trung Quốc có những thay đôi rất lớn. Nhưng có một điều không thay đổi: đó là mục tiêu chiến lược muốn nhanh chóng đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc bậc nhất thé giới và thực hiện mưu dé bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ đối với các nước khác. Tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói: “Chúng ta phải trở thành quốc gia hàng đầu về phát trién văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghiệp. Không thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm, chúng ta vẫn chưa trở thành cường quốc số một trên thé giới” Sau đó, tháng 9 năm 1959, tại Hội nghị của Quân uỷ trung ương, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói: “Chúng ta phải chỉnh phục trái đất.